Khuông nhạc dùng để ký hiệu các nốt nhạc mà các nhạc sĩ sử dụng phổ biến hiện nay được sáng tạo ra từ thế kỷ 10-11 bởi tu sĩ Guido of Arezzo. Khuông nhạc sau đó chỉ được sử dụng chủ yếu trong nhà Thờ để sáng tác các bài Thánh ca. Tới thời kỳ Phục Hưng, âm nhạc đã có một bước chuyển mình và đi vào những trải nghiệm cá nhân. Âm nhạc Phục Hưng (1400-1600) được đặc trưng bởi sự sáng tạo ra tính phức điệu trong âm nhạc nhà Thờ và những bản nhạc trữ tình trong âm nhạc đại chúng. Tuy nhiên, những sáng tạo này hãy còn đơn giản và âm nhạc vẫn chưa thực sự thể hiện hết sức mạnh và vẻ đẹp thần bí của nó.

Phải sau thời kỳ Phục Hưng, với sự đi lên của giao thương, giai cấp trung lưu ngày một giàu mạnh và cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, thì âm nhạc mới có được những điều kiện để bước sang một trang mới. Nhu cầu nghe nhạc của con người, cả trong hoàng gia và dân thường, ngày càng tăng và điều này đòi hỏi các nhạc sĩ càng nổ lực sáng tác hơn nữa. Baroque có nguồn gốc từ barroco trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là viên ngọc trai dị dạng. Tại sao người ta lại đặt cho âm nhạc thời kỳ này bằng một cái tên kỳ lạ như vậy? Nguyên nhân là bởi vì trong thời kỳ này, các nhạc sĩ đã thử nghiệm rất nhiều phong cách khác nhau, nhưng có một điểm chung đó là cho phép các nhạc công ứng tấu, độc tấu khiến cho bản nhạc có những phút ngẫu hứng và thú vị. Tuy nhiên, điều này thông qua con mắt của một số nhà phê bình lắc đầu, cụ thể là có một nhà phê bình ẩn danh đã viết về tác phẩm opera Hippolyte et Aricie của nhà nghiên cứu lý thuyết âm nhạc, nhà sư phạm âm nhạc nổi tiếng Jean-Philippe Rameau như sau: âm nhạc của vở opera này thiếu các giai điệu mạch lạc, quá nhiều sự bất hoà của các nốt nhạc, thay đổi liên tục điệu tính (key) và nhịp phách (meter). Nhưng phải mãi tới năm 1919, nhà nghiên cứu và phê bình âm nhạc Curt Sachs (1881-1959) đã trở thành người đầu tiên sử dụng hệ thống phân loại nghệ thuật với năm đặc tính của Heinrich Wölfflin (1864-1945) để áp dụng vào âm nhạc và đặt tên cho thời kỳ âm nhạc 1600-1750 ở châu Âu là Baroque. Tuy nhiên, khi áp dụng hệ thống phân loại này, các nhà nghiên cứu và phê bình âm nhạc gặp phải những khó khăn trong việc quyết định có đưa âm nhạc của những tên tuổi với phong cách đa dạng như Jacopo Peri, Domenico Scarlatti và Johann Sebastian Bach vào nhóm Baroque hay không.

Dù các nhà phê bình có quan điểm gì đi chăng nữa về âm nhạc thời kỳ này, Baroque đã có những đóng góp đáng kể vì những thử nghiệm âm nhạc của mình. Bản opera đầu tiên còn tồn tại được tới bây giờ Euridice do Jacopo Peri sáng tác năm 1600, cùng với sự ra đời của các thể loại hợp âm giữa giọng hát và nhạc cụ khác như cantata và oratorio, và các thể loại chỉ có âm thanh của các nhạc cụ như concerto và sonata, đã thực sự khẳng định thời kỳ Baroque như một thời kỳ khai phá của âm nhạc, để sau đó âm nhạc đạt được sự trưởng thành thực sự với thời kỳ âm nhạc cổ điển (1750-1820).

Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu các tác phẩm và tác giả quan trọng nhất của âm nhạc thời kỳ Baroque.

Jacopo Peri (1561-1633) với Euridice (1600)

Chúng ta còn nhớ thời kỳ Phục Hưng chính là thời kỳ phục hồi, chấn hưng lại các giá trị văn hoá của Hy Lạp cổ đại. Và vở opera Euridice của Jacopo Peri chính là một sự kết trái ngọt của thời kỳ Phục Hưng. Lắng nghe vở opera Euridice sẽ mang bạn quay trở lại hàng ngàn năm trước, về với những trường ca Hy Lạp, những câu truyện về các vị thần và các anh hung được kể bằng miệng. Chúng ta hẳn biết Eurydice là người vợ được chàng nhạc sĩ tài ba Orpheus yêu thương hết mực và chàng đã mạo hiểm tất cả để xuống địa ngục đi tìm người vợ của mình khi Eurydice chết.

 

 

Johann Christoph Pachelbel (1653-1706)

Pachelbel có một cuộc đời không suôn sẻ và ông đã gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống. Ông sinh trưởng trong một gia đình trung lưu nhưng khi trở thành sinh viên thì vì lý do tài chính nên ông đã phải rời trường sau chưa đầy một năm nhập học. Tuy nhiên ông đã giành được học bổng ở một trường khác bởi hội đồng của trường rất ấn tượng với tài năng của ông. Khi ông đi làm thì công việc không ổn định bởi vì hoặc là ông chủ bị chết, hoặc do chiến tranh tàn phá nơi làm. Ông mất khi mới 52 tuổi, mặc dù vậy ông cũng đã để lại rất nhiều ca khúc hay, trong đó, ấn tượng nhất là bản Canon cung Rê trưởng. Nói qua một chút, Canon là một kỹ thuật trong sáng tác âm nhạc, nó là một phức điệu trong đó nhiều loại âm xướng cùng chơi một thức nhạc điệu theo chuỗi. Canon in D là tác phẩm đặc trưng cho tính nhẹ nhàng mà êm ái của Pachelbel.

Johann Sebastian Bach (1685-1750)

Bach được xem là nhạc sĩ vĩ đại của mọi thời đại và của thời kỳ Baroque nói riêng. Ông là một nhà giáo tận tuỵ và là một nhạc sĩ cần cù với một kho tàng sáng tác đồ sộ cho nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thông âm nhạc, cả bố, ông và anh trai ông đều là nhạc sĩ hoặc nhạc công, Bach đã cống hiện trọn cuộc đời mình cho âm nhạc. Nhờ tài năng, lòng mộ đạo Tin lành và sự nghiêm túc trong công việc sáng tạo của mình ông đã được trao cho các vị trí thuận lợi cho sáng tác, ví dụ hoàng tử Leopold của Anhalt-Kothen đã cho ông vị trí giám đốc âm nhạc và để ông mặc sức sáng tạo từ năm 1717 cho tới năm 1723. Sau đó ông đảm nhận vị trí sáng tác âm nhạc và dạy nhạc trong các nhà thờ của đạo Tin lành tại Leipzig cho đến cuối đời. Các tác phẩm của Bach hay một cách đồng đều nên rất khó chọn được tác phẩm nào đặc sắc nhất. Khi nghe các bản nhạc của ông, chúng ta chắc chắn sẽ đồng tình với Beethoven rằng Bách chính là “cha đẻ của hoà âm” bởi khả năng kết hợp các âm khác nhau tuyệt vời của ông.

Hãy cùng thưởng thức các bản concerto, sonata, cantata và orchestra của Bach và cảm nhận sự hài hoà của giai điệu.

George Frideric Handel (1685 – 1759)

Handel là nhà soạn nhạc người Anh gốc Đức, ông nổi tiếng với các dòng nhạc opera, oratorio, anthem và concerto organ. Ông là một trong số ít các nhạc sĩ vĩ đại chú ý tới sự thương mại hoá các tác phẩm của mình. Ông thành lập nhiều công ty opera thương mại nhưng đều gặp phải khó khan khi công chúng chưa thực sự quan tâm đúng mực tới âm nhạc, họ chỉ thích nghe các giọng ca hát mà thôi. Ông làm việc sáng tạo âm nhạc rất nghiêm túc, và cũng nhận nhiều chỉ trích, phê bình, nhưng khi Trường ca Messiah của ông vang lên thì mọi chỉ trích nhắm vào ông đều im tiếng. Ông còn gặp phải tai ương nữa đó là vào tháng 4 năm 1737, khi ông 52 tuổi, một cơn đột quỵ đã khiến ông không thể sử dụng bốn ngón tay của bàn tay phải và người ta đã nghi ngờ về sự nghiệp sáng tác của ông. Nhưng ông đã bất chấp mọi bệnh tật, tới Aachen tắm suối nước nóng và chơi đàn organ trước sự kinh ngạc của tất cả mọi người.

Các tác phẩm đặc sắc của ông bao gồm Trường ca Messiah, Water Music, Music for the Royal Fireworks…

Antonio Vivaldi (1678 – 1741)

Vivaldi sinh ra có phần đặc biệt bởi ông được bà đỡ rửa tội ngay sau khi sinh. Điều này chỉ có thể được hiểu là do ông bị quá ốm yếu hoặc bị ma quỷ theo đuổi. Có lẽ vì điều này mà gia đình đã gửi gắm ông cho nhà thờ, và ông đã trở thành một linh mục. Ông được cha mình, một nghệ sĩ vĩ cầm, chỉ dạy tận tình nên kỹ thuật chơi vĩ cầm của ông đã nhanh chóng đạt tới ngưỡng điêu luyện. Các tác phẩm của Vivaldi cũng vì lý do đó mà có nhiều yếu tố vĩ cầm. Cả cuộc đời, ông gắn bó với số phận của những đứa bé mồ côi vì hơn ba mươi năm sống và làm việc tại nhà tình thuương Ospedale della Pietà. Có lẽ vì lý do đó các tác phẩm của ông đa phần có sự đượm buồm được tạo bởi tiếng vĩ cầm réo rắt. Nhưng đồng thời, các bản concerto hay symphony của ông nhiều lúc bùng nổ với những âm điệu rất nhanh và mạnh của bộ dây.

Mời các bạn thưởng thức các tác phẩm hay nhất của Vivaldi:

Lê Duy Nam

(Nguồn tham khảo: Wikipedia)

Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *