Kiến trúc - Hội hoạThưởng thức nghệ thuật

Nghệ thuật và Vật lý – Chương 7: Hợp lý, phi lý

Mặc dù tất cả kiến thức đều bắt đầu bằng kinh nghiệm, nhưng không nhất thiết tất cả kiến thức đều nảy sinh từ kinh nghiệm.

Immanuel Kant

Khi Nghệ thuật thoái hóa, thì Tưởng tượng bị từ chối.

William Blake

Giai đoạn cuối thể kỉ mười tám, người châu Âu thể hiện một niềm lạc quan chung về sứ mệnh của con người. Niềm tin của họ xuất phát từ các tiến bộ xảy ra khắp nơi chung quanh họ trong công nghệ và khoa học. Dựa trên công trình đầy uy tín của Newton, các nhà khoa học đã đưa ra những lý thuyết lật nhào các khái niệm tôn giáo giải thích sự vận hành của thế giới. Vào khoảng năm 1725, khoa học đã thay thế cho tôn giáo ở vị trí là lực lượng xã hội thống lĩnh nền văn hóa phương Tây. Năm 1747, khi ngợi ca chiến thắng ấy, Julien de La Mettrie đã tuyên bố trong luận văn Cỗ máy con người của mình rằng về nguyên tắc, tất cả các hoạt động lý trí đều có thể giải thích được một cách cơ học.

“Vì thế, thuật ngữ “tâm hồn” là một thuật ngữ trống rỗng, không ai gắn vào nó bất kì một khái niệm nào, thuật ngữ mà một người hiểu biết sẽ sử dụng chỉ để nói về những bộ phận của cơ thể chúng ta thực hiện việc tư duy. Chỉ cần được cấp một nguồn động lực, các vật thể sống sẽ có tất cả những gì chúng cần để di chuyển, cảm nhận, suy nghĩ, ân hận… nói gọn lại là để xử sự, trong lãnh địa vật lý cũng tương tự như trong lãnh địa đạo đức phụ thuộc vào nó… Chúng ta hãy mạnh bạo kết luận rằng con người là một cỗ máy, và toàn bộ vũ trụ chỉ bao gồm một chất liệu, với bao nhiêu biến thể khác nhau”.

Hội họa trong Kỉ nguyên Lí trí thật thà đến phi thường. Phép phối cảnh đã quy khuôn khổ của nghệ thuật về thành hình học, đến mức các phép đo và các định lý được nhiều nghệ sĩ tôn vinh hơn là trực giác. Các nghệ sĩ tổ chức không gian theo kiểu toán học giống như các nhà vật lí, và “chủ nghĩa tân hiện thực” – thuật ngữ dùng để miêu tả các tác phẩm của Jean Auguste Ingres, Jacques Louis David và những người khác trong thời kì này – đã khẳng định tính rành mạch của một thứ không gian vuông thành sắc cạnh và của thứ logic rõ ràng, chính xác. Trước đó, André Félibien, nhà lý luận của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Pháp, đã tuyên bố: “phép phối cảnh có tầm quan trọng sống còn đến mức người ta có thể đi đến chỗ nói rằng nó chính là cốt lõi của hội họa..”. Các họa sĩ đã trình bày chủ nghĩa hiện thực xã hội, một cách ẩn dụ, thành một thông điệp rõ ràng trong những tác phẩm tân cổ điển. Chủ nghĩa hiện thực xã hội dựa trên niềm tin tưởng lạc quan rằng nghệ thuật, giống như khoa học, có thể định hình và làm thay đổi xã hội. Constable, họa sĩ vẽ tranh phong cảnh người Anh ở thời kì này đã viết: “Hội họa là một khoa học và cần được phát triển như một cách thức tìm hiểu các quy luật của tự nhiên. Như vậy, tại sao lại không thể không coi hội họa phong cảnh là một chuyên ngành của triết học tự nhiên, trong đó các bức tranh chính là các thí nghiệm?”

Chủ nghĩa hiện thực, thiên đình của phép phối cảnh trong nghệ thuật, đã thống trị, khi mà lý trí cầm cương tư duy. Các khu vườn tại những chốn trang trọng, chẳng hạn như ở Cung điện Versailles, đã được thiết kế như những lời tụng ca tôn vinh các định đề Euclid hay thứ toán học chặt chẽ trong cuốn Các nguyên lí của Newton. Chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển và cơ học cổ điển của Newton đã trở thành hai phương thức duy nhất có thể hiểu được để nhìn và tư duy, và không một ai dám nghiêm túc thách thức các quy tắc cơ bản của hai hệ thống giáo luật này.

Chủ nghĩa hiện thực, sự miêu tả các vật thể thực được quan sát theo phép phối cảnh, và quyết định luận, học thuyết cho rằng mọi kết quả đều có một nguyên nhân trước đó, đã chia tách tâm thức châu Âu ra khỏi thuyết huyền bí và trực giác mà mới trước đấy còn đang được duy trì. Như chúng ta đã thấy, Leonardo và Newton, hai đại diện xuất sắc của nghệ thuật và vật lí, đã bổ sung cho nhau trên nhiều phương diện, cùng chia sẻ với nhau một niềm kính trọng sâu xa đối với lý trí và toán học. Trong chương này, hai nhân vật khác sẽ được đặt cạnh nhau để minh họa cho việc khoa học và nghệ thuật đang bắt đầu rời xa nhau. Immanuel Kant và William Blake là hình ảnh thu nhỏ của tình trạng loạn thần, hậu quả của sự phì đại ở mặt duy lý của tâm thức châu Âu. Kant, nhà triết học đồng thời là nhà phê bình, sử dụng từ ngữ thay các phương trình, đã cống hiến cho triết học những gì tương tự như Newton đã thành công đối với khoa học, khi nâng lý trí tới địa vị tương đồng với toán học của Newton. Kant và Newton đã sáng tạo ra các công cụ cho tư duy phương Tây, làm cho nó khác biệt với các nền văn hóa khác của thế giới. Ngược lại, William Blake là một nghệ sĩ kiêm nhà thần bí, bị những người cùng thời với ông bài bác vì đã cố đánh thức phương Tây khỏi cơn thôi miên do phép phối cảnh tuyến tính tạo ra trong nghệ thuật và logic quyết định luận tạo ra trong khoa học. Để làm bối cảnh cho các câu chuyện về họ, cũng nên điểm lại ngắn gọn về triết học và thi ca châu Âu.

Vào đầu thế kỉ mười sáu, lý trí đã làm triết học hồi tỉnh lại từ trạng thái hấp hối mà nó rơi vào trong giai đoạn sơ kì và trung kì Trung cổ. Ghen tỵ với tính chắc chắn của các nhà khoa học, các triết gia đã cố gắng tạo nên một sự tổ chức tương tự trong lĩnh vực của họ. Tuy nhiên, họ vấp phải một vấn đề đặc biệt. Trong khi thế giới của Newton chỉ bao gồm năm thành tố cốt lõi là không gian, thời gian, chuyển động, vật chất và ánh sáng, thì các nhà triết học lại còn phải vật lộn với một thành tố thứ sáu nữa; một thực thể gọi là trí tuệ. Khi Newton tuyên bố: “Tôi không dựng nên các giả thuyết”, ông muốn nói rằng khoa học của ông chỉ xử lý những vấn đề có thể chứng minh được bằng lý trí và bằng chứng thực nghiệm. Trí tuệ, cái thực thể thực hiện việc suy luận và đánh giá các bằng chứng, là điều ông không hề quan tâm. Tuy nhiên, các triết gia hậu Phục hưng lại thấy không thể bỏ qua nó.

Khác với giáo điều tôn giáo, việc diễn giải theo lẽ phải cho phép những người thực hiện có cái quyền được nghi ngờ, René Descartes (1596-1650) đã đẩy sự nghi ngờ đến cực điểm logic của nó. Xuất hiện ở thời điểm bản lề khi bá quyền của Vatican sụp đổ và nền triết học châu Âu đang trỗi dậy, chàng thanh niên Descartes bắt đầu nghi ngờ một cách có hệ thống toàn bộ mọi tín điều của mình. Ông nói: “Để đạt tới Chân lí, ít ra một lần trong đời người, cần thiết phải nghi ngờ mọi cái, càng sâu sắc càng tốt”. Khi ông tự hỏi cái gì là chân lý nền tảng tuyệt đối mà ông có thể chắc chắn, ông đi đến kết luận rằng bởi vì ông đang nghi ngờ, nên ông chính là đang tư duy, và bởi vì ông đang tư duy, nên ông chắc hẳn là đang tồn tại. Năm 1637, ông tuyên bố: “Cogito ergo sum” (“Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại”).

Bằng việc nghi ngờ mọi cái trừ bản thân việc nghi ngờ, Descartes tin rằng ông đã tìm ra điểm khởi đầu của một triết thuyết mới. Ông tiếp tục chia thế giới ra thành các thao tác tinh thần của trí não, đối lập với cái khối vật chất của cơ thể và nói rằng hai loại ấy là tách rời và biệt lập với nhau. Ông xây dựng nên một thuyết nhị nguyên chặt chẽ về tinh thần và vật chất, mới đầu cũng có tác dụng thúc đẩy bước tiến của khoa học, nhưng rồi sau đó đã làm mê muội các nhà tư tưởng phương Tây đến ba trăm năm tiếp theo. Ông là người theo quyết định luận, tin rằng mọi cái đều có nguyên nhân của nó. Triết học của ông dựa trên một hệ thống khớp số và bánh răng cơ khí, miêu tả một vũ trụ của các nguyên nhân và kết quả. Ông đã coi cơ thể như một cỗ máy; và các nhà khoa học hiện vẫn đang khảo sát nó “để xem nó chạy thế nào”.

Hệ thống tư duy của Descartes rõ ràng đã giảm thiểu vai trò của một Chúa Trời có quyền năng can thiệp. Tuy nhiên, Descartes là một người khôn ngoan. Khi được báo cho biết về rắc rối của Galileo với Tòa án Dị giáo, Descartes đã viết trong nhật kí riêng: “Mình giờ đây đã leo lên sân khấu của cái thế giới mà trước kia mình chỉ là một khán giả của nó, nhưng mình đóng vai với một cái mặt nạ ở trên mặt”. Trong các tác phẩm của ông, Descartes đã trả lại cho Chúa Trời những cái gì Chúa có, để qua được các nhà kiểm duyệt Vatican; nhưng với những tranh biện được lập luận rất thông minh, ông đã ngầm đẩy Chúa Trời dần khỏi vai trò trung tâm mà Chúa đã từng đóng trong giai đoạn lịch sử trước đó. Descartes dành cho các nhà thần học một lãnh địa bất khả xâm phạm, miễn nhiễm khỏi sự xâm lấn của khoa học, nhưng để đổi lại, ông đòi hỏi họ không còn được can thiệp vào sự vận hành của thế giới, cái mà từ nay trở đi sẽ chỉ là lãnh địa của khoa học.

Trong những cống hiến của ông cho khoa học và triết học, cống hiến bền lâu nhất là khám phá ra hình học giải tích. Ông đã chứng minh tính đẳng cấu của hai ngành toán học là đại số và hình học. Hình giải tích đã phiên dịch hoạt động tính toán trí não trừu tượng thuần tuý nhất (đại số) thành một dạng thức thị giác cụ thể (hình học). Bằng việc khám phá ra mối liên hệ này, Descartes đã bắc một cái cầu nối tư duy thuần tuý (res cogitans) với không gian thị giác (res extensa). Điều này đã tỏ ra là có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển tiếp theo của khoa học. Thật trớ trêu là món quà này lại đến từ chính nhà triết học, người hơn bất kì ai khác, đã dứt khoát tách biệt tinh thần khỏi vật chất.

Bên cạnh ông, Voltaire và Diderot cũng là những người cổ suý cho thời Khai Sáng, hết lời ngợi ca quyền lực của lý trí vượt lên trên sự thừa thãi của niềm tin mù quáng. Những lời tụng ca đã được thần thánh hóa vào năm 1789, khi tại đỉnh điểm của cuộc Cách mạng Pháp, các công dân sôi sục nhiệt tình đã đẩy một chiếc xe diễu hành khắp phố phường Paris, đứng trên đó là “Nữ thần Lí trí” (mà tình cờ là do một cô gái điếm đóng vai, hóa trang đẹp đẽ trong tấm áo choàng nữ thần La Mã dành riêng cho dịp này).

John Locke (1632-1704) là một nhà triết học hậu Phục hưng khác cũng đã đề cập rất nhiệt thành đến vấn đề trí tuệ. Locke muốn biết chính xác ai là người thực hiện thao tác suy lí. Ông cho rằng tất cả kiến thức về thế giới đều từ kinh nghiệm mà ra, và trí tuệ nảy sinh một cách ma mị từ những phát tán sôi động của vật chất. Miêu tả cơ sở tạo nên triết thuyết của mình, triết thuyết cổ súy cho chủ nghĩa duy vật, ông viết:

“… Tất cả kiến thức của chúng ta đều đến từ kinh nghiệm và thông qua các cảm giác của chúng ta… trong trí óc không có cái gì khác ngoài những thứ có đầu tiên ở cảm giác. Khi mới ra đời, trí óc chỉ là một tờ giấy trắng, một tabula rasa[1], và kinh nghiệm-cảm giác viết lên đó bằng hàng nghìn cách khác nhau, cho đến khi cảm giác đẻ ra trí nhớ, rồi trí nhớ đẻ ra các ý tưởng”.

Theo Locke, các cảm giác chính là chất liệu nguyên thủy của tư duy, và bởi vì cảm giác được kích thích bởi vật chất từ thế giới bên ngoài, nên vật chất chính là nguyên liệu cho những tư duy hoàn chỉnh của trí óc, Locke nói đến trí óc như một buồng tối mà các giác quan chúng ta để cho những bức tranh của thế giới bên ngoài lọt vào. Sử dụng đường lối lý luận này, Locke hi vọng sẽ kết nối được tinh thần và vật chất lại với nhau, từ đó tạo ra được một chỗ đứng khoa học vững chắc cho triết học. Tham vọng tột cùng của Locke là gắn được quan niệm triết học của mình lên các phương trình chắc như đá tảng của khoa học Newton.

Thật hài hước, khi phát triển việc phân tích theo kiểu Locke, Giám mục George Berkeley (1685-1753) lại đi đến một kết luận ngược hẳn lại các tiền đề của Locke. Berkeley đã phát biểu chủ yếu như sau: Locke đã nói với chúng ta rằng tất cả kiến thức đều bắt nguồn từ cảm giác, vậy thì mọi kiến thức chỉ là cảm giác. Nếu một cái cây đổ ở trong rừng, và không có tạo vật biết tri giác nào nghe thấy nó đổ, thì nó không thể tạo ra được một tiếng động nào. Bởi vì cây cối và cả thế giới nhìn thấy được đã không tồn tại ở một nơi nào khác ngoài trí óc của chúng ta, nên các cảm giác chỉ xuất hiện trong trí óc của chúng ta – vị giám mục kết luận, và “tất cả những vật thể ấy, những vật đã tạo nên cái bộ khung hùng vĩ của thế giới, sẽ không tồn tại nếu không có một trí tuệ”.

Chạm trán với vấn đề cây cối xuất hiện hay biến mất phụ thuộc duy nhất vào sự có mặt của một trí tuệ biết tư duy, thật không có gì là bất ngờ khi thấy Berkeley đã sử dụng cái mâu thuẫn rõ ràng này trong lập luận của mình để chứng minh cho sự tồn tại của Chúa. Xét cho cùng, ông là một giám mục. Berkeley cho rằng bộ óc thông tuệ vạn sự của Chúa đã nhìn thấu mọi vật ở mọi thời, và do vậy đã gỡ cởi cho đám phàm nhân khờ dại những trách nhiệm tư duy về số cây cối đó ở trong rừng. Đối với quan điểm của Locke cho rằng khái niệm về hiện thực của trí óc là có gốc rễ từ vật chất bên ngoài. Berkeley đã phản bác lại, cho rằng hiện thực là tất cả những gì ở trong trí óc. “Esse est percipi” – ông nói – nghĩa là “Tồn tại chính là được nhận biết”.

Những lập luận của Berkeley mạnh mẽ đề cao tính ưu việt của trí tuệ so với vật chất đã làm nhiều triết gia bực tức, James Boswell, nhà viết tiểu sử của Samuel Johnson, đã tường thuật lại:

“Có một lần chúng tôi đứng nói chuyện với nhau về những ngụy biện khéo léo của Giám mục Berkeley dùng để chứng minh cho sự phi tồn tại của vật chất… Tôi nhớ mãi phản ứng tức thì mà Johnson trả lời, ông co chân đá rất mạnh vào một tảng đá lớn đến mức bật cả người lại – “Tôi bác nó như thế này này!”

Nhưng đến David Hume (1711-1776), ở tuổi hai mươi sáu, con người hoài nghi xứ Scotland này, nói một cách hình tượng, đã chen vào đứng giữa Locke và Berkeley, tuyên bố rằng cả hai ông đều sai hết. Theo Hume, trí óc chỉ là một sự trừu tượng hóa đan kết các tri giác, kí ức, tình cảm để tạo thành cái “Tôi” của nhân cách từng con người đơn lẻ. Bản ngã không là cái gì khác ngoài một tập hợp những kinh nghiệm không chỉ phụ thuộc vào một phía là cảm giác hay là vật chất, mà đúng hơn là phụ thuộc cả hai. Như vậy, cả tinh thần của Berkeley cũng như vật chất của Locke đều không phải là nguồn gốc duy nhất của tư tưởng. Hume viết:

“Khi tôi đi sâu nhất vào cái mà tôi gọi là bản thân, tôi luôn luôn va phải một tri giác cụ thể nào đó, nóng hay lạnh, sáng hay tối, tình yêu hay lòng căm giận, nỗi đau đớn hay niềm khoái cảm. Tôi không bao giờ bắt gặp mình có lúc nào đó mà lại không có tri giác, và không bao giờ có thể quan sát nổi một cái gì đó mà không có tri giác.”

Thoạt đầu, cuốn Luận về bản chất con người của Hume đã không được đọc một cách rộng rãi, nhưng rồi cuối cùng nó đã truyền được niềm hứng khởi lớn lao đến những người cổ vũ cho học thuyết của ông; họ tuyên bố Hume đã chứng minh rằng kinh nghiệm và lý trí không có mối quan hệ tường minh với nhau. “Không vật chất, bất tinh thần” – câu nói sắc sảo gọn lỏn, thông báo cuộc đấu khẩu giữa Locke theo vật chất và Berkeley chuộng tinh thần đã chấm dứt, được lan truyền như vậy[2].

Với ý coi thường khá rõ, Hume còn tuyên bố rằng xét đến cùng, những định luật được ngành khoa học đáng ngợi ca khổ công tìm ra không phải là một bộ phận cố hữu của thế giới này, mà chỉ là những sản phẩm tạo tác của bộ óc các nhà khoa học. “Hãy lưu ý”, Hume nói, “chúng ta không bao giờ tri giác được các “nguyên nhân” hay các “quy luật”. Chúng ta chỉ quan sát được những sự kiện xảy ra trong không gian theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên, không thể nhầm lẫn trình tự thành một thứ “luật” của quan hệ nhân quả”. Chỉ vì B tiếp theo A không có nghĩa rằng A đã gây nên B.

Bertrand Russell, nhà triết học thế kỉ hai mươi, đã diễn đạt quan điểm của Hume khi ông viết:

“Quy luật nhân quả phổ quát”… (là một) nỗ lực nhằm nâng đỡ niềm tin của chúng ta cho rằng những gì đã xảy ra trước đây rồi sẽ lại xảy ra, điều này cũng chả có căn cứ gì hơn việc con ngựa của bạn tin rằng bạn sẽ rẽ ở chỗ bạn thường vẫn rẽ”.

Đối với Hume, nền móng của khoa học không là cái gì khác hơn những “tục lệ” được các nhà khoa học nhất trí với nhau, và không hề có “tính tất yếu” nào của nguyên nhân và kết quả trong một chuỗi dài các sự kiện. Trí óc chúng ta áp đặt một thứ mà chúng ta gọi là sự liên tục lên những sự kiện nảy sinh ra bằng niềm tin không thể lay chuyển của chúng ta về nguyên nhân và kết quả. Tuy nhiên có tồn tại một điều chắc chắn, một ngoại lệ. Theo Hume, các phương trình toán học có tính tất yếu, bản thân chúng là đúng đắn một cách cố hữu và không thể bác bỏ: hai cộng với hai luôn luôn là bốn. Bằng cách như vậy, Hume đã giam lỏng các nhà khoa học có thiên hướng triết học tại nhà của họ, buộc họ không được thực hiện các cuộc du hành tư biện của mình. Các nhà khoa học vì thế bị bó buộc trong những khuôn khổ chặt chẽ của toán học trừu tượng, thứ mà nhiều đồng sự với Hume đã phản đối, coi đó chỉ là một cái phòng ngăn tiếng dội hoàn toàn. Hume đặt vấn đề nghi ngờ giả thuyết cơ bản về việc các cá nhân có thể thông tin cho nhau bất kì điều gì có ý nghĩa, bởi vì ông hoài nghi rằng tất cả chúng ta đều sống trong những thế giới niềm tin riêng của từng người và vì thế, không thể chứng minh được sự tồn tại độc lập của bất kì thứ gì ở bên ngoài hệ quy chiếu của mỗi chúng ta.

Để làm yếu thêm sợi dây xích của tính nhân quả, logic chặt chẽ của Hume đã tạo ra một nạn nhân nữa là khái niệm về “tâm hồn”, khái niệm cốt lõi của mọi niềm tin tôn giáo. Nhưng Hume đã để dành những lời công kích mãnh liệt nhất cho các nhà triết học cùng ngành với ông:

“Khi chúng ta lục lọi qua các thư viện, bị thuyết phục bởi các nguyên tắc này, chúng ta phải tàn phá mới ghê gớm làm sao! Ví dụ như nếu chúng ta cầm lên tay bất kì một tập giáo khoa lý thuyết suông siêu hình nào, chúng ta hãy hỏi: “Nó có chứa đựng bất kì suy ngẫm trừu tượng nào liên quan đến số lượng hay con số không?” Không, “Nó có chứa đựng bất kì suy ngẫm thực nghiệm nào liên quan đến thực tế hay sự tồn tại không?” Không. Vậy thì hãy đưa nó làm mồi cho lửa, vì nó chẳng chứa đựng cái gì, ngoài ngụy biện và ảo giác”.

Tại điểm nối này của lịch sử, một vài nhà triết học đã không chắc chắn rằng việc họ được giải thoát khỏi giáo điều của Nhà Thờ có phải là một sự giải phóng vĩ đại hay không. Các nhà siêu hình học thời kì trước đó đã hi vọng xây dựng nên một triết thuyết mới có thể đồng hành cùng nền nghệ thuật và vật lý của thời đại. Hume đã xé vụn bản thiết kế công phu của họ và châm cho nó một que diêm.

Trong khung cảnh ấy, đã xuất hiện một anh hùng bất ngờ là Immanuel Kant (1724-1804). Vị giáo sư nhỏ nhắn người Đức này đã cứu triết học thoát khỏi các lập luận của Hume và đặt nó lên một nền tảng đủ vững chãi để thực sự cùng tồn tại với nghệ thuật hiện thực và vật lý học Newton. Ông bắt đầu xây tòa nhà tư tưởng đồ sộ của mình bằng việc xoáy vào gót chân Achilles của toàn bộ lập luận của Hume – toán học. Kant viết: “Ví dụ Sáng ngời của toán học đã minh chứng cho việc chúng ta có thể tiến lên được bao xa, độc lập với tất cả kinh nghiệm, trong một hiểu biết tiên nghiệm (a priori)”. Từ kết quả của quan sát này, Kant nói lên cái điều giản dị mà các nhà triết học châu Âu trước ông đã không tìm ra: hiểu biết của chúng ta về thế giới không phải hoàn toàn bắt nguồn từ các trải nghiệm của chúng ta.

Kant cho rằng đã có một thứ chất nền của sự hiểu biết về bản thân và thế giới được lắp sẵn ngay trong trí não con người, ngay từ khi chúng ta bắt đầu hình thành trong bụng mẹ (in utero). Ông tự hỏi điều gì sẽ xảy ra, nếu chúng ta có được sự hiểu biết độc lập với giác quan-kinh nghiệm, thứ hiểu biết mà chân lý của nó là chắc chắn đối với chúng ta, thậm chí trước cả khi ta có trải nghiệm – một thứ tiên nghiệm? Nếu được như thế, thì theo Kant, chân lý tuyệt đối và khoa học tuyệt đối là điều có thể. Kant đưa ra những câu hỏi này bởi vì ông quan sát thấy rằng các kinh nghiệm không bao giờ cho chúng ta sự thật đầy đủ về thế giới. Có những cái mà chúng ta tin chắc rằng chúng đã luôn luôn và sẽ mãi mãi đúng như thế, ở mọi nơi trong vũ trụ, như việc “hai cộng với hai bằng bốn”. Chúng ta không cần quay lại kinh nghiệm của mình mỗi khi chạm trán với các ví dụ về phép cộng đơn giản như vậy để xác nhận rằng chúng là đúng. Bởi vì khả năng làm tính cộng đã nảy sinh một cách logic từ năng lực suy xét của con người để phân biệt các vật trong không gian và thời gian, nên Kant suy luận rằng một số chân lý nhất định độc lập với kinh nghiệm – bản thân chúng đã rõ ràng và chắc chắn rồi. Theo Kant, tiên đề “đường thẳng nối hai điểm là đường ngắn nhất” là một tiên nghiệm, bởi vì “nó mang tính tất yếu, không thể rút ra từ kinh nghiệm”.

Theo Kant, trí óc phải sử dụng một quy trình chọn lọc để áp đặt trật tự lên cái mà Plato gọi là “đám cảm giác lộn xộn của chúng ta“. Kant cho rằng quy trình này phụ thuộc trước tiên và trên hết vào hai phạm trù thể hiện bên ngoài – là không gian và thời gian, Kant tin rằng hai tọa độ này, những kết cấu cơ bản của hệ thống thế giới bên ngoài của Newton, đã được lắp đặt ngay vào trong cấu trúc của tư duy chúng ta. Theo Kant, không gian và thời gian là Các Cơ quan của tri giác.

Do trong thuyết nhân quả rành rẽ của mình, yếu tố đầu tiên của suy lý phụ thuộc hoàn toàn vào khái niệm không gian tuyệt đối và thời gian bất biến, nên Kant đã cho rằng năng lực biết phân tích thế giới theo những mối quan hệ nhân quả là một kĩ năng bẩm sinh mà con người dùng để tổ chức tư duy. Chúng ta “biết” cách sử dụng tính nhân quả, bởi nó là một sự hiểu biết tiên nghiệm, tồn tại trước kinh nghiệm và không cần cảm giác[3].

Newton đã xây dựng tòa nhà Các nguyên lí của mình trên những dầm xà vững chắc của không gian tuyệt đối bên ngoài và thời gian bất biến. Về cơ bản, Kant đã kéo dài các cây xà tuyệt đối ấy từ thế giới vật chất bên ngoài, đẩy chúng xuyên qua hàng rào bộ não-trí óc cho đến khi các đầu cột cắm sâu vào tầng hầm ý thức con người theo giả định của Kant. Sau khi đã đem được những cái tuyệt đối “bên ngoài” vào được “bên trong”, Kant thực hiện xây tòa nhà triết học của mình trên đó khi ông giải thích cách thức hoạt động của trí não[4]. Theo Kant, không gian mang đặc tính như Euclid đã xác định, chỉ có thể có ba chiều. Các tiên đề của Euclid là những chân lý tiên nghiệm nằm cùng một tầng giá trị như hai với hai là bốn. Kant còn đi xa hơn khi nói: “Thời gian không là cái gì khác, mà là một dạng thức của cảm giác bên trong, nghĩa là của trực giác và trạng thái bên trong của chúng ta”. Tuy nhiên, ông cũng hàm ý cho rằng thời gian chảy theo một hướng với một tốc độ không đổi, và con người chúng ta từ lúc sinh ra đã biết về các đặc tính của nó. Kant đã trả lời sự hoài nghi của Euclid bằng lý luận cho rằng không gian, thời gian và tính nhân quả đều là những phạm trù mang tính khái niệm và trực giác đã tồn tại cố hữu trong tâm trí con người. Sự hiểu biết tiên nghiệm này đã cho phép chúng ta đồng ý với nhau rằng thế giới bên trong của chúng ta đều giống nhau đến mức ta tin rằng mỗi người chúng ta đều nhìn nhận và suy nghĩ về thế giới như nhau. Bằng cách như vậy, Kant đã cứu triết học thoát khỏi các lý luận phân lập của Hume.

Cộng đồng các nhà triết học cuối cùng đã rất ấn tượng về tính trong sáng trong các lý luận của Kant và họ hầu hết đều ôm chặt lấy triết thuyết của ông về Chủ nghĩa Duy tâm Siêu nghiệm. Nghệ thuật, rồi khoa học, rồi minh triết – mọi cái dường như vừa khít. Nhưng rất tiếc, nó lại không hoàn toàn đúng.

Từ đầu thế kỉ mười bảy, các nhà thơ trở thành nhóm người chủ chốt cố gắng chống lại cỗ xe hủy diệt của logic và tính nhân quả khoa học. Do khoa học bắt đầu chiến thắng tôn giáo, họ nhìn thấy lý trí đã vượt hẳn lên trên nghệ thuật và trực giác. Lo âu của các nhà thơ là có cơ sở chính đáng, bởi vì uy quyền của Newton sớm trở nên mênh mông đến mức cuốn Các nguyên lí của ông đã làm cho quyết định luận dường như không thể bác bỏ.

Nhìn thấy trước sự thống trị của khoa học đối với tư duy, năm 1611 John Donne đã thể hiện niềm lo sợ trước cái mà ông cho là sự tạo dựng một vị chúa tể mới – quyết định luận khoa học – phản ánh sự tất yếu của tính nhân quả. Ông vật lộn với triết thuyết này trong bài thơ Giải phẫu thế giới của mình:

Và triết thuyết mới gọi mọi nghi ngờ tới

Dập tắt ngọn lửa nguyên sơ

Vầng Thái dương bị mất, trái đất cũng không còn, và không sự thông minh nào của con người

Có thể chỉ rõ cho anh ta chỗ tìm lại được nó. Con người công khai thú nhận rằng thế giới đã hết

Trên các hành tinh, trên bầu trời

Con người tìm kiếm nhiều cái mới,

và thấy rằng thế giới này đã vỡ vụn ra thành các nguyên tử

Mọi cái chỉ còn là mảnh vụn, mọi sự gắn kết đã ra đi;

Tất cả chỉ là nguồn cung, tất cả là quan hệ

Tác phẩm Dunciad của Alexander Pope năm 1728 cũng thể hiện những lời thở than trước chiến thắng của khoa học:

Vô ích thôi, vô ích thôi – Thời khắc trăn trở sáng tạo

đã sụp đổ. Nàng Thơ đã vâng phục Thần Năng Lượng

Hãy coi chừng. Bà ta đang tới

Ma vương của Đêm Tối nguyên thủy, của Hỗn Mang ngày xưa

Trước bà ta, những đám mây vàng của Thần tưởng tượng bị rữa nát

Những chiếc Cầu vồng luôn biến đổi dần chết lụi đi

Trí thông minh bùng lóe lên bất lực trong những ánh lửa ngắn ngủi

Sao băng rơi, cháy tan trong chớp sáng

Trong vòng xiết chặt của nàng Medea ghê gớm

Lần lượt từng ngôi sao ốm yếu nhợt nhạt tắt dần trên cánh đồng ether

Như những Con mắt của gã khổng lồ Argus bị cây đũa của thần Hermes phù phép

Lần lượt nhắm lại trong giấc ngủ vĩnh cửu

Trước bước chân đang cảm thấy đến gần, len lén,

Nghệ thuật này nối tiếp nghệ thuật khác ra đi, tất cả lại là Màn Đêm

Sau đó, ở buổi đầu của thời Khai sáng, nhà triết học lãng mạn, có thiên hướng thi ca Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) đã cố ngăn chặn cơn triều dâng của logic bằng cách cho rằng trực giác và tình cảm là hai chỉ dẫn cao hơn lý trí. Ông đi đến kết luận như vậy, bởi vì “Tôi nhận ra rằng sự tồn tại của chúng ta không là cái gì khác, mà là một sự tiếp nối liên tục những khoảnh khắc được nhận biết qua các cảm giác”. Rousseau đã chữa lại câu nói của Descartes “Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại” thành ra “Tôi cảm thấy, vậy thì tôi tồn tại”. Tuy nhiên, ông đã không thể lật ngược được các đợt sóng lý trí. Tiếng nói của Rousseau đã bị thành công của khoa học cuốn phăng đi.

Do quyết định luận khoa học dần dần thay thế cho giáo điều của Nhà Thờ về số mệnh, những người còn tin vào ý chí tự do thấy mình trở thành tù nhân về trí tuệ trong cái cũi sắt chật cứng của các lập luận của Newton, chúng đòi hỏi rằng mỗi kết quả đều phải do một nguyên nhân gây ra. Ngay cả một đầu óc tự do nhất như Voltaire cũng bị buộc phải đi đến kết luận: “Thật hết sức lạ kì là toàn bộ tự nhiên, tất cả các hành tinh, đều phải tuân theo các định luật vĩnh cửu, thế mà lại có một con vật nhỏ bé, cao một mét sáu, khinh thường các định luật ấy, có thể làm những gì mà nó thích”. Tuy nhiên, ý chí tự do sẽ luôn luôn là vấn đề mà nhà logic không bao giờ có thể giải thích thấu đáo. Tiến sĩ Johnson đã chạm được một ngón tay vào nó khi ông nói: “Tất cả lý thuyết thì chống lại sự tự do của ý chí, còn tất cả kinh nghiệm thì ủng hộ nó”. John Milton trong một đoạn phân tích rất hay ở tác phẩm Thiên đường đã mất, đã tóm tắt cái nghịch lý ấy: “Nhưng Chúa đã để cho Ý chí được tự do; vì những gì phải tuân theo Lí trí là tự do”.

Nhà tiên tri hăng hái, kịch liệt bài bác cơn mê muội của tâm hồn phương Tây nhất là nghệ sĩ và nhà thơ William Blake (1757-1827). Blake là một thầy pháp, thường xuyên trải nghiệm việc nhìn thấy thế giới bên kia. Ông viết cho người bảo trợ của ông là Thomas Butts: “Tôi không xấu hổ, sợ hãi hay căm ghét khi nói cho ông cái Phải Được Nói Ra. Rằng tôi chịu sự sai khiến của các Sứ Giả từ Thượng Giới – Ngày ngày, Đêm đêm”. Không khác gì các bác sĩ và luật sư, ông thậm chí còn dành ra những giờ nhất định trong ngày để tiếp đón những “sứ giả” này, Edith Sitwell nói Blake “chập mạch”, nhưng bà tin rằng chính từ sự “chập mạch” ấy, ánh sáng lại lóe lên. Đó là khi trong một câu thơ sắc sảo, Blake đã cảnh báo chống lại “tầm nhìn đơn và giấc ngủ Newton”, ông buộc cho phép phối cảnh thời Phục hưng và cơ học của Newton cái tội đã thôi miên tinh thần của con người.

Đối lập với Kant, Blake là một người cổ vũ không nao núng cho chủ nghĩa phản duy lí. Trong tác phẩm Hôn nhân giữa Thiên đường và Địa ngục của mình năm 1793, ông đã khẳng định: “Con đường của cực đoan sẽ dẫn đến cung điện của Minh triết” và “những con hổ của lòng giận dữ thông thái hơn những con ngựa của sự chỉ dẫn”. Blake khuyên: “Thà giết sớm khi chúng còn như trẻ thơ trong nôi, hơn là nuôi lớn những dục vọng không được trình diễn”. Ông tin rằng “khoa học phản Chúa” đã phá hủy tâm hồn của nghệ thuật và tôn giáo, bởi vì “Nghệ thuật là Cây của sự sống” còn “Khoa học là Cây của Cái Chết”. Khi ông viết: “Lí trí là giới hạn hay đường chu vi ngoài của Năng lượng”, ông đã cố gắng đưa Con người trở lại thế cân bằng hơn giữa lý trí và trực giác. Ông cảnh báo:

“Con Ma chính là Năng lực Suy lý ở trong Con Người; và khi nó bị tách khỏi Trí Tưởng tượng và tự giam cứng bản thân lại trong một Tỉ lệ Vật thể của Kí ức, nó sẽ lập ra các Định luật và Đạo lý để phá hủy Trí Tưởng tượng…”

Ông tin rằng chúng ta đều là những tạo vật thiêng liêng, và Chúa Trời sáng ngời qua trí tưởng tượng của chúng ta, điều”… đã hiển hiện bản thân qua Các tác phẩm Nghệ thuật (trong Vĩnh cửu, Tầm Nhìn là Tất cả)”.

Blake thấy rất rõ người châu Âu đã sa vào bùa mê của chính những sáng tạo của họ. Rất lâu trước đó, trong Thánh thi số 115, tác giả của nó đã nhắc nhở con người phải cẩn thận khi tạo ra các thần tượng bằng đá, bởi vì: ”Kẻ nào làm ra chúng sẽ trở thành y như chúng; đúng vậy – tất cả những ai đã tin tưởng vào chúng”. Blake giờ đây lại cảnh báo rằng nghệ thuật hiện thực và thuyết nhân quả khoa học là những thần tượng đá mới, và người phương Tây sẽ chia sẻ mối nguy của người tạc thần tượng đá cổ xưa ở chỗ “họ trở thành cái mà họ nhìn thấy”.

Blake là một trong số hiếm hoi các nhà thơ đồng thời lại là nghệ sĩ tạo hình. Trong triều đại lâu dài của nền nghệ thuật theo phép phối cảnh, việc ông từ chối vẽ các hình dạng theo đúng mối quan hệ chính xác về phối cảnh thật là một điều nổi bật. Cho đến thời hiện đại, hầu hết các nhà phê bình nghệ thuật đều coi thường các bức họa và tranh khắc của Blake, xem chúng là trẻ con và nguyên sơ, cho rằng kĩ thuật của ông là thô vụng. Chỉ có một nhà phê bình đã nhận xét về triển lãm cá nhân duy nhất của ông (do chính Blake tự đứng ra thu xếp), và nói rằng ông là:

“… một kẻ điên bất hạnh, mà bản tính hiền lành đã cứu khỏi chuyện bị nhốt vào một chỗ, và vì vậy đã không được công chúng để ý… Thế rồi hăng lên, con người đáng thương này tưởng tượng ra rằng mình là một bậc thầy vĩ đại, và vẽ ra mấy bức họa khốn khổ … Mấy thứ đó anh ta gọi là Triển lãm, xuất bản một danh mục về nó, hay đúng hơn là một mớ hổ lốn những điều nhảm nhí, vô nghĩa, thậm chí rỗng tuếch, một Cơn phun trào điên dại của một bộ não loạn trí…”

Trong một tác phẩm của mình. Blake đã lấy Newton làm chủ đề. Ông vẽ nhà vật lý lừng danh này trần như nhộng, ngồi còng lưng dưới đáy biển, hoàn toàn ngập trong đại dương không gian và thời gian của mình. Trong tranh của Blake, Newton có vẻ như đang trầm tư tập trung suy tưởng, quy giản thế giới về chỉ còn là một dãy phép tính với một cái compa đo trong và một cái compa đo ngoài.

Blake tất nhiên đã có một quan điểm về thời gian và không gian rất khác so với Newton lẫn cả Kant. Newton và Kant coi không gian là không gian Euclid và thời gian mang tính trình tự; còn trong Những điềm báo trước Ngây thơ, Blake đã viết:

“Cả Thế giới ở trong Hạt Cát

Và Thiên Đường trong một Đóa Hoa

Cái Vô hạn trong lòng bàn tay bạn

Vĩnh cửu Thời Gian – chỉ đúng một giờ”

Northrop Frye, một trong những nhà nghiên cứu lịch sử văn học chủ chốt của thế kỉ hai mươi đã cứu tác phẩm của Blake ra khỏi sự quên lãng, đã viết rằng đối với Blake, “mỗi một hành động tưởng tượng, mỗi một sự thống nhất giữa tồn tại và nhận thức, đều là một tổ hợp không gian-thời gian, không phải là thời gian cộng với không gian, mà là thời gian nhân với không gian, có thể nói như vậy, trong đó cái thời gian và không gian như chúng ta biết, đã biến mất”. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ thấy các quan điểm của Blake đã mang tính tiên tri như thế nào. Blake viết: “Nếu các cửa tri giác được làm sạch, thì mọi cái sẽ hiện ra trước con người đúng như chúng vốn có – một cách vô hạn. Bởi vì con người đã đóng chặt mình lại, cho đến lúc anh ta chỉ có thể nhìn mọi cái qua những kẽ hẹp trong cái hang của mình”.

Blake gạt bỏ logic “ở đây / ngoài kia” của Locke vốn đang là nền tảng cho triết học và khoa học ở thời ông, coi đó là “suy lý theo kiểu Hai Sừng, hư cấu tách đôi”. Đi xa hơn nữa. Blake tin rằng các nghệ sĩ hàn lâm đã bán rẻ mình cho khoa học và nghệ thuật hiện thực – thứ nghệ thuật chết và trì trệ. Ông đặc biệt nhằm vào người cùng thời với mình là Ngài Joshua Reynold, họa sĩ hàn lâm hàng đầu ở Anh, đặt tên cho Joshua Reynolds và các môn đồ tuân theo quy tắc của ông là “Ngài Sloshua (Ngài Joshua chậm hiểu) và “đám du thủ du thực đánh thuê của ông ta”. Blake cho rằng con đường dẫn đến chân lý và sự giác ngộ ở tầm cao hơn chính là con đường đi qua suy ngẫm về nghệ thuật. Theo ông, bằng việc tắm mình trong nghệ thuật, con người ta không những chỉ có thể biết nó như một trải nghiệm mĩ học, mà còn giống như một bài tập thiền mà một nhà ngoại cảm thực hiện để chuẩn bị đạt tới một trạng thái cao hơn của sự khai sáng tâm linh. Blake tuyên bố rằng người nào không phải là nghệ sĩ thì đều là kẻ phản bội đối với bản chất của chính anh ta. Ông đã không khoan nhượng với niềm tin đó.

“Bạn phải lìa bỏ Cha, Mẹ, Nhà Cửa, Đất Đai Nếu họ và chúng đứng chắn đường Nghệ Thuật Lời Cầu nguyện là việc Nghiên cứu Nghệ Thuật; Lời Tụng ca là việc Thực hành Nghệ Thuật Ăn chay và v.v, tất cả đều liên quan đến Nghệ Thuật Lễ tế bên ngoài là phản Chúa… Thân thể Vĩnh hằng của Con Người là Sự tưởng tượng”.

Trong lời giới thiệu cho tác phẩm Jerusalem, Blake viết: “Thi ca bị cùm kẹp thì Nhân Loại bị cùm kẹp. Các Quốc gia bị Hủy diệt hay Phồn thịnh theo tỉ lệ với việc Thi ca, Hội họa, Âm nhạc của chúng bị Hủy diệt hay Phồn thịnh. Trạng thái Nguyên thủy của Con Người là Minh triết, Nghệ thuật và Khoa học”.

Ở thời của mình, Blake giống như Cassandra, con gái của Vua Priam trong tác phẩm Iliad của Homer, người có thể báo chính xác tương lai. Tuy nhiên, món quà của các vị thần ban cho Cassandra ấy không phải không kèm theo một lời nguyền: mặc dù những lời tiên đoán của nàng là đúng, nhưng không một ai tin nàng. Blake chính là Cassandra của nền văn minh phương Tây.

Những tiếng nổ phành phạch và hơi thở phì phò ở đầu thế kỉ mười chín của cuộc Cách mạng Công nghiệp đã củng cố cho phép phối cảnh hiện thực của Alberti, các ý tưởng cơ học của Newton và các giải thích duy lý của Kant. Việc chuyển đổi từ các phương trình nhẹ bẫng như hơi thành các động cơ xù xì thay thế cho những con vật thồ nặng hàng đã làm cho tất cả các nhà khoa học và hầu hết nghệ sĩ, triết gia, thường dân đều hết lời tôn vinh phương thức Cơ khí. Ngay cả các nghệ sĩ nổi loạn của phong trào phản kháng cuộc Cách mạng Công nghiệp, Giai đoạn Lãng mạn, cũng tuân theo phép phối cảnh và các quy tắc logic, trong khi vẫn tiến hành đánh tập hậu một cách vô vọng. Con mắt khổng lồ và các bánh răng lách cách của cơ cấu các cỗ máy tự động đã nắm chặt châu Âu trong gọng kìm cương tỏa của nó. Tuy nhiên, ở thời kì ấy, không một ai để ý đến một cuộc cách mạng thực sự đang bắt đầu, cuộc cách mạng sẽ lật nhào những hệ thống đó. Một thế kỉ sau, phép phối cảnh của Alberti, Cơ học của Newton và những lập luận của Kant sẽ đi đến chỗ được nhìn nhận chỉ là các sơ đồ liên kết ràng buộc với nhau trong một thiết kế lớn lao hơn.

Chú thích

  1. Bước lên Tabula rasa (tiếng Latin): Tấm bảng bị xóa trắng. – ND
  2. Bước lên Nguyên văn no matter, never mind. Ngoài nghĩa đen như trên, các nhóm từ này đứng với nhau còn ngầm mang một sắc thái hóm hỉnh “không có gì, cũng không sao”. – ND
  3. Bước lên Hai giác quan quan trọng nhất để đánh giá không gian và thời gian là thính giác và thị giác. Việc Heller Kelly mù và điếc vẫn có khả năng suy luận đã khẳng định thuyết của Kant về năng lực tiên nghiệm của trí óc có thể dùng một thứ giác quan bên trong về không gian và thời gian để tư duy.
  4. Bước lên Kant thực sự cũng đã cố gắng, mặc dù nửa muốn nửa không, hòa giải quan điểm tuyệt đối hóa của Newton với quan điểm của người đồng bào của Kant là Leibniz, người tin rằng không gian và thời gian có thể là tương đối.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
  • Nguồn đăng bài: Vi.kipkis.com
Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *