Kiến trúc - Hội hoạThưởng thức nghệ thuật

Nghệ thuật và Vật lý – Chương 6: Nghệ sĩ – nhà khoa học, pháp sư – nhà vật lý

Nghệ thuật là Nữ hoàng của tất cả các khoa học, nó truyền đạt kiến thức đến tất cả mọi thế hệ của thế giới.

Leonardo de Vinci

Chúng ta sẽ không chấp nhận những nguyên nhân nào khác của các vật tự nhiên ngoài những cái vừa chân thực vừa đủ để giải thích cho sự hiện diện của chúng.

Isaac Newton

Nếu Giotto sừng sững đứng ở ngưỡng cửa lối vào thời Phục hưng, thì Newton là người khổng lồ đã khép lại cánh cửa của thời đại ấy. Hách dịch và thông minh, ông được trời phú cho một bộ óc sắc như kính khắc. Ông đã có những khám phá gây chấn động về lực hấp dẫn, chuyển động và ánh sáng. Tập hợp những rường cột, rầm xà là các khám phá khoa học của mình và của những người thời trước, ông đã dựng nên một tòa thành trì tư tưởng dường như không thể nào phá vỡ nổi. Cái bắt đầu ở thời Phục hưng sơ khai như một bước đi dấn lên trên con đường hiểu biết tự nhiên đã đạt tới đỉnh cao khi vào năm 1687, Newton cho xuất bản công trình bao quát tất cả của mình – cuốn Các nguyên lý Toán học – Kinh Thánh của cả một hình mẫu khoa học mới. Nối tiếp một chủ đề được Descartes và Galileo khởi xướng, Newton đã hạ bệ Chúa Trời xuống chỉ còn đóng vai trò của Nhà Thiết kế vĩ đại. Trong quyết định luận khoa học nảy sinh từ các tư tưởng của Newton, không có chỗ cho các phép mầu. Chúa đã không còn là một thành viên tham dự tích cực trong những công việc hằng ngày của các sinh linh của Người, mà trở thành một đấng quan sát thụ động sự sáng tạo mà Người đã khởi động.

Newton bắt đầu với giả định của Pythagoras cho rằng tự nhiên có thể quy giản thành các mối quan hệ toán học. Ông cũng mô phỏng cách tổ chức của Euclid trong cuốn Các cơ sở của Hình học theo một khuôn mẫu tương tự, bắt đầu bằng các định nghĩa rồi tiến tới hình thành các định luật của mình dựa trên chúng. Trong quá trình làm như vậy, ông dựng giàn giáo cao thêm trên nền logic học của Aristotle. Rồi ông bổ sung bằng phương pháp thực nghiệm của Galileo, luôn luôn kiểm chứng lý thuyết bằng các thực tế quan sát được, cuối cùng đi đến những phát kiến của chính ông liên quan đến cơ học, lực hấp dẫn và phép tính vi tích phân. Newton trình bày các viễn kiến của mình dưới dạng toán học. Các con số và các phương trình ngắn gọn đã diễn dịch những bánh xe hùng vĩ của bầu trời, dồn chúng lên những trang giấy mỏng. Hệ thống tư duy này, một phương pháp nghiên cứu và miêu tả thấu suốt và thực tế những hiện tượng vật lý của thế giới được biết đến là cơ học cổ điển của Newton. Nó vận hành thật tuyệt vời. Chiến công trí tuệ của Newton đã làm kinh ngạc đồng bào ông đến mức ông được ví với nhà tiên tri Moses đến từ đỉnh Sinai. Alexander Pope đã thâu tóm cảm giác của thời đại ấy khi ông viết:

“Tự nhiên và các bí mật của nó đang nằm chìm đắm trong Đêm đen.

Chúa Trời phán, hãy để Newton ra đời.

và tất cả bừng lên thành Ánh sáng”.

Cơ học cổ điển đề cập đến hiện thực khách quan. Không gian và thời gian là một mạng lưới đan chéo nhau chặt chẽ trong đó diễn ra các sự kiện khoa học. Nhà nghiên cứu (giống như Chúa Trời) thường chỉ ngồi lặng và quan sát thế giới bên ngoài. Trong thời đang lên của hệ thống Newton, nghệ thuật Tây Âu bắt đầu quan tâm đến những đối tượng cụ thể của thế giới bên ngoài. Phép phối cảnh đã tách biệt rõ ràng cái “tôi” ra khỏi cái “nó”. Giống như phối cảnh là cái khung cho phép các họa sĩ thực hiện việc mà họa sĩ người Anh thế kỉ mười chín John Constable sau đó gọi là “những thí nghiệm về tự nhiên”, hệ thống của Newton chính là một bản đồ cho phép có thể thực hiện việc thám hiểm miền biên của thế giới và xa hơn thế nữa.

Cả nghệ thuật lẫn khoa học đều phù hợp với lẽ phải thông thường, khiến cho chúng ngày càng được chấp nhận rộng rãi.

Các định luật vật lý đã làm cho người sử dụng có hiểu biết vẽ được đồ thị đường bay của tên lửa hay quỹ đạo của các hành tinh. Những đồ thị này kết nối các vật thể đơn lẻ với những đường tưởng tượng không thể thấy được trong tự nhiên. Trong nghệ thuật, nằm ẩn dưới lớp sơn trên vải, là các lớp ảnh chồng của những đường vô hình mà người nghệ sĩ đã vẽ ra trong khi phác dựng bức tranh. Quy ước về phối cảnh chủ đạo đã chế ngự nghệ thuật từ những năm đầu của thế kỉ mười bốn đến thập niên 60 của thế kỉ mười chín. Vật lý cổ điển ở ngôi vua từ khoảng năm 1500 đến năm 1900. Trong những thế kỉ ấy, các nguyên lý tương đồng của phép phối cảnh và vật lý học Newton đã thấm đẫm mọi lĩnh vực của nền văn minh châu Âu.

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu vẻ vang ở mức thiên tài này, nhưng Newton cũng đặt ra một loạt những khái niệm còn khiếm khuyết liên quan đến cốt lõi và các quan hệ giữa không gian, thời gian và ánh sáng. Ý niệm của Galileo về sự nghỉ trong một hệ quy chiếu quán tính đã trở thành điểm xuất phát của hệ thống Newton. Trong “Giả thuyết số 1” ở cuốn Hệ thống Thế giới, Newton tuyên bố: “Trung tâm của hệ thống thế giới là bất động. Điều này được tất cả công nhận, trong khi có một số người quả quyết rằng trái đất, một số khác thì cho rằng mặt trời, được gắn chặt ở trung tâm đó”, Newton chấp nhận thuyết tương đối của Galileo và thoạt đầu đã tìm kiếm một điểm trong không gian gần mặt trời là điểm ở trạng thái nghỉ tuyệt đối. Ông đã cố tính toán tìm ra vị trí của nó, có tính đến trường hấp dẫn của tất cả các hành tinh, vệ tinh tự nhiên và mặt trời.

Cái mà sau đó có ảnh hưởng đến quan niệm của Newton về trạng thái nghỉ tuyệt đối là hai phát kiến có liên quan với nhau. Năm 1676, nhà thiên văn người Đan Mạch Ole Christensen Roemer đã chứng minh rằng ánh sáng di chuyển trong không gian với một vận tốc hữu hạn. Trong lúc ca ngợi thông tin này, giống như các nhà khoa học khác, Newton đặt ra một câu hỏi hiển nhiên: vậy thì tốc độ ánh sáng có thể được đo bằng cái thước nào, nếu như theo Galileo mọi vật trên bầu trời đều là chuyển động đối với các vật khác? Phát kiến thứ hai là của Christian Huygens vào năm 1678, nói rằng ánh sáng truyền trong không gian như một loại sóng được phát bởi một chất liệu vô hình gọi là ether phát quang. Mặc dù Newton không đồng ý với sự khẳng định đó (ông tin rằng ánh sáng có tính chất hạt, bao gồm các phần từ nhỏ li ti đi xuyên qua không gian theo những tia đơn thẳng tắp), nhưng ông chấp nhận quan niệm về một loại chất ether vô hình vô trí đó, bởi vì ông có thể dùng nó một cách tiện lợi để truyền tải lực hấp dẫn mà ông vừa khám phá ra, cũng như trả lời cho câu hỏi nảy sinh từ tính toán của Roemer về vận tốc ánh sáng.

Sai lầm to lớn mà Newton mắc phải liên quan đến ether là ông đã gán cho nó thuộc tính nghỉ tuyệt đối. Ông tin rằng trong khi các ngôi sao cố định, mặt trời, các hành tinh và mặt trăng thực hiện những bước đi nhịp nhàng trong vũ điệu uy nghi của chúng, thì ether tạo ra cái nền chính, trùm lên tất cả những nền quan sát khác. Một người quan sát đứng cố định ở bất kì đâu trong ether sẽ có được một điểm nhìn ưu việt, tồn tại ở trạng thái nghỉ tuyệt đối ở mọi thời điểm. Từ điều này, quan niệm của Newton về thời gian và không gian đã ra đời.

Newton đã khắc vào đá tính bất biến tuyệt đối của cả không gian và thời gian. Những lời của ông, lăn dài từ trên đỉnh núi trong giọng điệu vang vọng, được nói ra sang sảng đầy uy quyền của một vị thần khoa học:

“Thời gian Tuyệt đối, Đích thực và mang tính Toán học, tự nó và từ bản chất của chính nó, bình thản trôi đi, không hề để ý đến bất kì cái gì ngoài nó”.

Không gian cũng tiếp theo y như vậy:

“Không gian Tuyệt đối, trong bản chất của chính nó, không đếm xỉa đến bất kì cái gì ngoài nó, luôn luôn tồn tại nguyên như thế và bất di bất dịch”.

Mặc dù các nhà khoa học khác cùng thời với Newton, đặc biệt là Leibniz và Hooke, đã không đồng ý với khẳng định này, nhưng uy tín khổng lồ của Newton cuối cùng cũng tạo được cho những ý tưởng ấy sự cứng nhắc của một giáo điều, bất chấp thực tế là chúng không hề đúng. Quan niệm nhầm lẫn cho rằng trái đất đứng yên và là trung tâm của vũ trụ ở thời Trung cổ đã được thay thế bằng một quan niệm nhầm lẫn không kém phiền toái về bản chất tuyệt đối của không gian, thời gian và trạng thái nghỉ.

Bất đồng của Newton với Huygens về bản chất của ánh sáng là sự khởi đầu của bài toán khó xử sóng-hạt đã được đề cập sơ qua ở Chương 1. Niềm tin của Newton đối với ánh sáng mang tính chất hạt đã đứng đối lập hẳn với những sóng ánh sáng của Huygens dập dờn lan trong ether như sóng nước vỗ bờ. Mặc dù công khai gắn bó với quan điểm đã được công bố, nhưng trong thâm tâm, Newton vẫn cảm thấy băn khoăn với bản chất dường như lưỡng tính của ánh sáng.

Vấn đề có vẻ đã được giải quyết một thế kỉ sau đó vào năm 1801, khi Thomas Young lập luận một cách dứt khoát rằng ánh sáng xử sự như một loại sóng. Bằng chứng không thể phản bác nổi của Young là việc ông đưa ra hình ảnh giao thoa của ánh sáng. Các vân sáng và tối xen kẽ nhau chính là những hình giao thoa, và là dấu hiệu của các sóng. Sau sự phản kháng ban đầu đối với tác phẩm đã chối bỏ Newton – người không thể chối bỏ được -, các nhà khoa học khác đã ngợi ca khám phá “ánh sáng là sóng” của Young, coi nó là khám phá chủ yếu của khoa học.

Newton, Huygens và Young được trích dẫn nổi bật trong bất kì một cuộc đàm luận nào về quang học. Tuy nhiên, các nhà viết lịch sử khoa học thường bỏ quên khám phá của Francesco Grimaldi. Người họa sĩ hậu Phục hưng này vào năm 1665 đã để ý thấy rằng trong cái bóng bao quanh các vật chắn sáng, có tồn tại một lớp mỏng các vân giao thoa. Không đồng ý với quan điểm của Galileo và Newton, Grimaldi cho rằng ánh sáng không phải là một dòng những hạt nhỏ li ti, mà là một chất giống như chất lỏng có thể chảy ôm quanh các vật thể. Ông đoán rằng những vân giao thoa mà ông quan sát được chính là các gợn sóng của dòng chảy ấy. Mặc dù không phát biểu những phát hiện của mình thành ngôn ngữ toán học chặt chẽ của khoa học, nhưng chính người họa sĩ này đã đưa ra ý kiến cho rằng ánh sáng xử sự như một loại sóng trước lý thuyết sóng của Huygens năm 1678 đến mười ba năm.

Trước những thành tựu của Newton, những sai sót của ông trở nên nhợt nhạt; và ông hiện ra như một nhân vật khổng lồ – người đã thiết lập nên cả một cách thức tư duy mới về thế giới. Cuốn Các nguyên lí của ông đã thách thức thẩm quyền của Kinh Thánh. Cho đến đầu những năm 1700, hình ảnh một Cỗ máy Đồng hồ uy nghi đã thay thế cho hình ảnh một Chúa Trời râu tóc bạc trắng ngự trên ngai vàng ở thiên cung. Các nhà triết học và thần học, bị ảnh hưởng bởi những nhà vật lý học như Newton, đã so sánh vũ trụ như một chiếc đồng hồ cơ khí khổng lồ, tích tắc chạy do thần thánh khởi động. Chúa Trời sau khi làm ra chiếc đồng hồ của Người và các định luật vận hành những chức năng của nó, đã bình thản lùi lại đằng sau quan sát sự sáng tạo ấy của mình. Theo cơ chế này, thời gian tuôn chảy vô tận với một tốc độ không đổi trong một không gian đồng nhất và đồng chất. Ánh sáng là một chất kì bí di chuyển từ nơi này đến nơi kia như một chú bé chạy việc vặt nhanh nhẹn. Thành công của ẩn dụ này đã dẫn đến việc các nhà tư tưởng ngợi ca hết lời chuỗi hạt xâu nối nhau của tính nhân quả, là cái đã được người ta liên kết một cách thuận tiện với Dây xích Tồn tại Vỹ đại – một ẩn dụ lớn nữa tôn vinh các giá trị của quyết định luận sau này ở thế kỉ mười tám.

Trong các chương trước, những miêu tả vật lý về thế giới do các nhà vật lý đưa ra được đem so sánh với các viễn cảm đi trước thời đại của các nghệ sĩ. Trong các so sánh ấy, chúng ta thấy rằng người nghệ sĩ đã trình bày cho xã hội một cách thức mới để nhìn thế giới, trước khi nhà khoa học phát hiện ra một cách thức mới để tư duy về thế giới.

Nhưng mẫn cảm của người nghệ sĩ nào đã có thể thấy trước được những điều mà thiên tài khổng lồ, đơn độc Newton đã tìm ra? Chỉ có một người trong toàn bộ nền văn minh phương Tây: đó là Leonardo da Vinci. Mặc dù Leonardo là nhân vật xuất chúng của thế kỉ mười lăm và thiên tài của Newton tỏa sáng ở thế kỉ mười bảy, nhưng có nét tương đồng gần gũi về cuộc đời, suy nghĩ, bản tính, niềm tin và thành tựu của hai con người này.

Newton được sinh ra vài tháng sau cái chết của người cha nông dân thất học. Khi mẹ ông sớm tái giá sau đó, Newton được gửi về cho bà của mình nuôi. Lúc còn là một đứa trẻ, ông đã phải đua tranh với cha dượng để giành phần yêu thương của mẹ mình.

Leonardo là đứa con hoang của một phụ nữ nông dân mù chữ. Giống như Newton, ông thoạt đầu cũng được mẹ nuôi dạy một mình mà không có cha. Rồi sau đó, khi chưa đến năm tuổi, ông bị tách khỏi mẹ, được đem về nuôi ở nhà cha mình, một luật sư Florence có của ăn của để, người không để ý gì nhiều đến cậu bé Leonardo.

Cả Newton và Leonardo đều có ít bạn trong thời thơ ấu và cả hai đều dần hình thành nên một bản tính rất nhạy cảm và mơ mộng. Mỗi người đều vui sướng với sự cô độc của mình và quý việc đọc sách hơn là giao du bạn bè. Sau này trong cuộc đời mình, khi Newton bị Edmund Halley ép phải công bố phát minh về phép tính vi tích phân, ông đã lo lắng rằng việc công bố sẽ đem đến sự nổi tiếng có thể xóa mất sự riêng tư của mình. Ông viết trong một bức thư:

“Tôi chả thấy có gì là đáng thèm khát cả trong sự trọng vọng của Công Chúng, nếu như tôi có thể đạt được và giữ được nó. Nó có lẽ chỉ tăng thêm các mối quen biết của tôi, điều mà tôi đang nghiên cứu chủ yếu để từ chối bớt”.

Trước đó hai trăm năm, đồng vọng một tình cảm tương tự, Leonardo cũng đã viết:

“Nếu anh có một mình, thì anh hoàn toàn thuộc về anh… Nếu anh bị người khác đi cùng, chỉ là một người thôi, thì anh chỉ còn thuộc về bản thân anh có một nửa, thậm chí còn ít hơn, theo tỉ lệ phụ thuộc vào mức vô tâm trong hành vi của người đó; và nếu anh có đến mấy người đồng hành, thì anh sẽ rơi sâu hơn vào cảnh khốn khổ ấy”.

Thời trẻ, cả Newton lẫn Leonardo đều mê thích tạo ra những trò đùa khác lạ. Vào một đêm hè, cậu bé Newton đã khiến dân cả vùng Lincolnshire hoảng sợ khi thả lên trời một cái đĩa bay bằng khí nóng mà cậu chế ra bằng cách gắn các cây nến vào một khung gỗ buộc dưới một cái vòm chụp làm bằng giấy sáp. Leonardo thì có lần đã gắn một cái bễ thổi vào đầu một khúc ruột bò phơi khô quắt queo rồi đặt đoạn dây ruột bò ấy vào một căn phòng, còn cậu đứng trong một căn phòng khác với cái bễ. Khi mọi người vào phòng, thoạt đầu họ hầu như không để ý đến cuộn dây màu nâu sậm ấy, nhưng rồi họ chóng ngỡ ngàng và sợ đờ người ra khi một khối cầu khổng lồ lù lù lớn dần lên, dồn họ ép vào bức tường đối diện.

Cả Newton và Leonardo đều có trí tưởng tượng vô cùng phong phú, từ đó đã tuôn trào các khám phá, các dụng cụ, các cỗ máy cơ khí kì diệu và các thiết bị vượt trước thời đại. Newton sáng chế ra kính thiên văn phản xạ, Leonardo – máy bay lên thẳng; Newton – định lý nhị thức, Leonardo – dù, tàu ngầm và xe tăng. Các khám phá của Newton được diễn tả bằng những phương trình, còn phát minh của Leonardo thể hiện trong những bản vẽ. Leonardo đã đóng góp nhiều cho khoa học cả trong lý thuyết lẫn ứng dụng, nhưng ông chủ yếu được nhắc tới trong các giờ học về lịch sử nghệ thuật. Newton đã viết những bài bình luận Kinh Thánh tràng giang đại hải về thuật giả kim, về các điều thần bí của Chúa Ba Ngôi và về quyền lực của Kinh Thánh. Vậy mà ông lại được coi là nhà vật lý đứng đầu của lịch sử.

Cả hai đều tin rằng toán học thuần tuý là sự diễn đạt cao nhất của trí tuệ con người. Leonardo tuyên bố: “Không có sự chắc chắn ở nơi mà người ta không thể áp dụng một trong các ngành toán học hay bất kì một ngành nào dựa trên cơ sở các ngành toán học”. Trong lời giới thiệu cuốn Các nguyên lí của ông, Newton đã viết: “Tôi trình bày tác phẩm này như những nguyên lý toán học của triết học, bởi vì toàn bộ sức nặng của triết học dường như bao gồm hết trong đây…”

Cả hai đều phản đối giáo điều ba ngôi của thần học Cơ đốc giáo, thay vào đó chỉ tin là có một Chúa Trời. Nhưng không một ai trong hai người dám nói ra lời những niềm tin đích thực của mình, bởi vì trong những thời đàn áp ấy, đàn ông và đàn bà vẫn đang bị treo cổ trên các giàn xử giảo hoặc bị thiêu trên các hỏa đài vì tội nuôi dưỡng những niềm tin dị giáo như vậy.

Cả hai đã làm biến đổi khoa học ở thời của mình từ một nền khoa học chủ yếu có quan điểm tĩnh về vũ trụ sang một nền khoa học bao gồm cả chuyển động. Chủ đề chuyển động đã cuốn hút hết hai ông và những cống hiến vĩ đại nhất của hai ông cho nhân loại đã nảy sinh từ một sự tò mò sâu sắc về nó. Khát khao đầy tham vọng của Newton nhằm giải thích các chuyển động của bầu trời đã dẫn đến việc hình thành nên ba định luật chuyển động nổi tiếng của ông cũng như khám phá của ông về quy luật tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách của lực hấp dẫn. Các bức vẽ nghiên cứu bắt buộc của Leonardo về những chuyển động cơ bắp của người và ngựa, thể hiện trong những bản mẫu vẽ cho tác phẩm Trận chiến Anghiari của ông là những miêu tả giải phẫu học chi tiết nhất về người và ngựa trong chuyển động có được từ trước đến nay. Ông đã xuất bản một cuốn sách mà cho đến bây giờ vẫn còn là tác phẩm nghiên cứu hoàn chỉnh về giải phẫu loài ngựa. Mối quan tâm của ông đến các nguyên lý chuyển động đã đưa ông đi xa vào lĩnh vực giải phẫu học đến mức những cống hiến của ông trong lĩnh vực kiến thức này đã vĩnh viễn làm thay đổi cả cách thức mà những sinh viên tương lai của môn này sẽ được dạy dỗ. Cuốn sách giáo khoa y học hiện đại đầu tiên, De humani corporis fabrica (Cấu trúc cơ thể người) của Andreas Vesalius, xuất bản năm 1543, đã mang một món nợ khổng lồ đối với những bản vẽ nghiên cứu giải phẫu trước đó của Leonardo.

Leonardo cũng đã cố tìm hiểu khái niệm quán tính và đã đến gần sát tới mức kinh ngạc cái manh mối trung tâm mà hai thế kỉ sau đã làm cho Newton có thể trình bày cặn kẽ các định luật về chuyển động của ông. Leonardo viết: “Không có bất kì vật gì có thể tự chuyển động được cả, mà chuyển động của nó là được tác động thông qua một vật khác. Không có một lực nào khác ngoài điều đó”. Ông còn viết:

“Tất cả chuyển động đều có xu hướng duy trì mãi, hay nói đúng hơn, mọi vật thể chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động, chừng nào mà lực tác động lên chúng của các động cơ (tác động ban đầu) vẫn còn ở trong chúng”.

Định luật vĩ đại thứ nhất về chuyển động của Newton nêu rõ:

“Mọi vật đều luôn ở trạng thái nghỉ, hoặc chuyển động thẳng đều, trừ khi nó bị buộc phải thay đổi trạng thái ấy bởi những lực tác dụng lên nó”.

So sánh các phát ngôn trên, chúng ta có thể hiểu dễ dàng tại sao nguyên lý quán tính đã từng được gọi là Nguyên lý Leonardo cho đến khi Newton xuất bản tác phẩm Các nguyên lí của mình. Từ đó trở đi, Newton thường được coi là có công khám phá ra điều đó – khám phá đã lật nhào toàn bộ hệ thống cơ học do Aristotle lập nên hai nghìn năm trước đây. (Trong các sách lịch sử khoa học, tôi đã chỉ tìm thấy rất ít ỏi những dẫn chiếu công nhận nhận xét quan trọng đó của Leonardo, trước Newton đến hai trăm năm). Theo Leonardo “cơ học là thiên đường của khoa học toán học bởi vì qua nó, người ta có được các thành quả của toán học”.

Cả Leonardo và Newton đã xây dựng nên một bộ luật để giải thích vũ trụ vật lý – Leonardo thì thông qua việc nhìn thế giới, còn Newton thì thông qua suy nghĩ về nó. Leonardo, người nghệ sĩ, đã phân tích thế giới nhìn thấy được qua con mắt của một nhà khoa học.

Chọn trong những lời giáo huấn của ông, người ta thấy:

“Khi vẽ cảnh tự nhiên, hãy đứng xa từ khoảng cách bằng ba lần kích thước của vật đang vẽ… Mọi vật thể cản quang không màu đều nhận màu của vật đối diện với nó, tương tự như xảy ra với bức tường trắng… Bóng cây đổ xuống từ ánh nắng chiếu lên cây cũng đen kịt như trong ruột cây… Mặt trời trông to hơn trên mặt nước chuyển động hoặc khi mặt nước bị vỡ ra thành sóng, so với mặt trời trên mặt nước lặng”.

Newton, nhà khoa học, đã quy giản thế giới nhìn thấy được thành các mối quan hệ toán học; tuy vậy ông vẫn chưa hài lòng với các công thức của mình, cho đến khi ông xây dựng được một mô hình hình học dễ dàng cảm nhận được bằng mắt thường. Ông đã thể hiện cảm giác ấy khi ông viết: “Hình học thật tuyệt vời ở chỗ chỉ từ mấy nguyên lý ấy, hình thành từ cái không có, mà nó có thể tạo ra được nhiều thứ đến vậy. Bởi vậy, hình học được hình thành từ thực tiễn cơ học”.

Cả hai ông là những người đi tiên phong trong nghiên cứu về ánh sáng và cả hai đều đưa ra được những ý tưởng sâu xa mang tính cách mạng về bản chất của nó. Leonardo biết được rằng các hình ảnh đều bị lộn ngược trên võng mạc. Ông được công nhận rộng rãi là đã phát minh ra buồng tối – cơ sở của nguyên lý chụp ảnh hiện đại. Ông cũng nghiên cứu về ảo giác quang học và các giải thích của ông vẫn còn đang được áp dụng đến ngày nay. Ông đã phác thảo một thiết bị để đo cường độ ánh sáng không khác gì lắm so với cái mà Benjamin Thompson, một người Mĩ, đã sáng chế ra sau đó ba thế kỉ. Leonardo cũng đã thích thú với các loại bóng tối và đã tìm ra các chi tiết hình học của vùng tối sẫm (umbra) và vùng tối mờ (penumbra) mà các nhà thiên văn ngày nay vẫn còn đang sử dụng. Ông thông thạo các loại kính mắt và đã gợi ý từ thế kỉ mười lăm về khả năng chế tạo kính áp tròng. Ông khảo sát hiện tượng phát ánh ngũ sắc của lông công và từ vết dầu loang trên mặt nước. Ông được ghi lại trong lịch sử thành văn là người đầu tiên đã đưa ra phỏng đoán cực kì quan trọng, cho rằng ánh sáng lan truyền trong không gian và thời gian như một loại sóng. Ngoại suy từ sóng nước và sóng âm, ông viết: “Hệt như một hòn đá ném xuống nước trở thành tâm điểm của vô số vòng tròn, âm thanh cũng lan tỏa thành các vòng tròn trong không khí. Như vậy, một vật thể đặt trong không khí sáng sẽ lan tỏa thành các vòng tròn, lấp đầy không gian bao quanh, tự lặp lại đến vô hạn; và hiện ra đầy đủ ở tất cả các chỗ cũng như ở mọi bộ phận”.

Leonardo, nhà khoa học có cái nhìn thị giác sắc sảo nhất trong các nhà khoa học, đã thốt lên đầy chất thi ca khi miêu tả giác quan mà chúng ta dùng để cảm nhận ánh sáng:

“Con mắt, cửa sổ của tâm hồn, là cơ quan chủ yếu mà nhờ nó, sự hiểu biết có thể có được cái nhìn đầy đủ nhất, hoành tráng nhất về những công trình bất tận của tự nhiên.

Bạn không thấy con mắt đã ôm trọn vẻ đẹp của cả thế giới này sao?… Nó khuyên dụ và chỉnh sửa tất cả các nghệ thuật của nhân loại… Nó là ông hoàng của toán học, và các khoa học hình thành dựa trên nó là tuyệt đối chắc chắn. Nó đo các khoảng cách và kích thước các vì sao; nó phát hiện ra các nguyên tố và vị trí của chúng… Nó sản sinh ra kiến trúc, phép phối cảnh và nghệ thuật hội họa thiêng liêng.

Ôi cái điều tuyệt vời, hơn hẳn toàn bộ những gì khác mà Chúa Trời đã sáng tạo ra! Lời nào đủ để ngợi ca sự cao quý của mi đây? Người nào, ngôn ngữ nào sẽ miêu tả đủ những gì mi làm được? Mắt là cửa sổ của Cơ thể Con người để cơ thể ấy tìm được đường đi và thưởng thức vẻ đẹp của thế giới. Nhờ có mắt mà tâm hồn ta chịu ở yên trong cái nhà tù thân thể, vì không có nó cái nhà tù thân thể ấy sẽ là một cực hình.

Kì diệu thay, phi thường thay sự cần thiết ấy! Ngươi, với tri giác cao tột bậc, đã buộc tất cả các ấn tượng phải trở thành kết quả trực tiếp từ những nguyên nhân của chúng, và theo một định luật tối cao không thể đảo ngược, mọi hành động của tự nhiên đều phải tuân lệnh ngươi trong một quá trình ngắn đến hết mức không thể ngắn hơn được nữa. Ai tin nổi rằng một không gian nhỏ bé dường ấy lại chứa hết toàn bộ hình ảnh của vũ trụ…”

Tuy nhiên, những cống hiến lâu bền nhất của Leonardo cho kho tàng kiến thức của chúng ta về ánh sáng đã không được viết ra bằng lời, mà có thể nhìn thấy từ các bức họa của ông. Leonardo có thể chắt ra từ bút lông và sơn màu một thứ ánh sáng mang một phẩm chất hiếm có. Không một họa sĩ nào trước đó cũng như sau này đạt được cái vẻ trắng mờ huyền bí của cái không gian xa vắng ấy. Những khung cảnh không thể diễn tả nổi của các ngọn núi xa, sự tương tác lặng thầm của một thứ ánh sáng nhẹ như hơi trên nét cười mỉm của một người đàn bà, chùm bước chạy dập dờn như sóng của một con ngựa trong các bức tranh của ông – tất cả đều tắm trong một thứ ánh sáng cùng một lúc vừa đại diện cho cái thế giới nhìn thấy được này, vừa chứa đựng những sắc thái nhòa chồng làm cho tác phẩm của ông gần như thuộc về một thế giới khác.

Newton thì ngược lại; ông đã viết hẳn một chuyên luận hoàn chỉnh về ánh sáng trong cuốn Quang học (Opticks) của mình xuất bản năm 1704. Thường thì ông không mấy quan tâm đến việc quan sát các hiệu ứng của ánh sáng, mà là tìm hiểu bản chất của nó. Bằng việc cho ánh sáng mặt trời chiếu qua một chuỗi các lăng kính đặt trong phòng tối, ông đã có nhiều khám phá dựa trên những câu hỏi bắt đầu từ thời của Leonardo, Newton còn đi xa hơn và giải thích được tại sao ánh sáng trắng lại có thể được phân tách thành nhiều màu khác nhau nhờ sự khúc xạ. Trước Leonardo và Newton, thuật giả kim đóng vai trò là kho kiến thức của châu Âu về quang học. Nhưng các nhà giả kim luôn luôn viện đến những thuật ngữ tâm linh để giải thích hiện tượng cầu vồng của lăng kính. Với sự chính xác của toán học, Newton đã nhiều lần thực hiện được cái mà Leonardo đã thể hiện trong những bức vẽ hàm súc của mình.

Mặc dù Newton rất sáng tạo, nhưng trong hai ông, Leonardo mới là người có trí tưởng tượng phong phú hơn. Tôi ngờ rằng các phát minh kĩ thuật và khám phá khoa học của ông đã không được các nhà nghiên cứu lịch sử khoa học công nhận một cách thỏa đáng bởi vì Leonardo đã vượt trước rất xa thời đại của mình. Óc tưởng tượng của ông đã bỏ xa công nghệ của thế kỉ mười lăm đến mức nhiều lý thuyết và phát minh xuất sắc nhất của ông đã không thể thử nghiệm được.

Tuy nhiên, cả Leonardo và Newton đều đã phiêu du trong bầu khí quyển luyễnh loãng của cái chức năng cao nhất của bộ não, đó là sự trừu tượng hóa. Phát minh của Newton về phép tính vi tích phân đã đòi hỏi những người cố theo ông phải có khả năng tư duy trừu tượng ở cấp độ khó khăn nhất. Leonardo tương tự cũng đã quan tâm đến các thiết kế trừu tượng. Trong tác phẩm Chuyên luận về Hội họa của mình (mãi đến năm 1651 mới được xuất bản), Leonardo nói về một phương pháp “làm tăng nhanh tinh thần sáng chế”. Ông khuyên các nghệ sĩ:

“Các bạn nên nhìn vào những bức tường nào đó nhem nhuốc vì ẩm ướt, hay những hòn đá có màu sắc nham nhở. Nếu như cần phải tạo ra một cái nền, các bạn sẽ có thể nhìn thấy ở những thứ ấy sự tương tự với các phong cảnh thần tiên, có núi non, phế tích, đá, cây, những bình nguyên mênh mông, đồi cao, thung sâu ở muôn hình vạn trạng, những thể hiện của các khuôn mặt, các trang phục và vô hạn những thứ mà các bạn có thể tinh giản chúng thành những hình thức hoàn chỉnh và thích hợp. Trên những bức tường như vậy cũng diễn ra thứ tương tự như trong những tiếng chuông, mỗi một tiếng ngân lên của nó là các bạn có thể tìm thấy một từ đã biết mà bạn có thể hình dung ra được”.

Mối quan tâm của Leonardo tới hình ảnh phi vật thể đã đưa ông đến chỗ trở thành họa sĩ châu Âu đầu tiên vẽ tranh phong cảnh. Làm như thế, ông đã bước một bước xa khỏi sự thể hiện cụ thể hoặc tượng trưng để đến gần hơn với trừu tượng. Tranh phong cảnh thuần tuý là điều hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi đối với các nghệ sĩ Hi Lạp, La Mã hay Cơ Đốc, bởi vì chúng không chứa đựng cái tôn ti trật tự thông thường của con người hay các vật do con người tạo ra. Trái lại, chúng là sự bắt đầu của việc công nhận các mẫu hình chứ không phải là các vật thể nữa. Mối quan tâm của Loenardo với các mẫu hình trừu tượng lớn lên mãi cho đến khi ông trở nên say mê miệt mài với các thiết kế thuần tuý hình học. Sổ tay của ông đầy những bức tranh mà cuối cùng không luận ra được là hình ảnh gì. Sau này trong đời mình, ông đã vẽ nhiều phác họa cho tác phẩm Sự phun trào của Cơn đại hồng thủy (1514) – cơn sóng lũ thứ hai ập đến, rửa sạch mọi tội lỗi của loài người. Trong những bức vẽ này, các hình dạng phức tạp của những bức tường nước khổng lồ đang ập xuống đã đạt tới trình độ của một thứ nghệ thuật-không-có-hình-ảnh đã đi trước bốn trăm năm các tác phẩm trừu tượng của Wassily Kandinsky, Kazimir Malevich, và cả Piet Mondrian nữa.

Cả hai ông đều là những người viết sung mãn về nhiều chủ đề, mặc dù khi còn sống, không một ai trong số hai ông cho xuất bản khối lượng trước tác ấy. John Maynard Keynes, người mà danh tiếng là một nhà kinh tế xuất sắc đã che mờ thành tựu nghiên cứu cả đời của ông về Newton, đã mua được từ một cuộc bán đấu giá những gì còn lại của một cái rương trong đó Newton đã chất đầy các bài viết của mình về các chủ đề không liên quan gì đến khoa học. Keynes ước tính “Có khoảng 1.000.000 từ viết tay còn tồn tại” và phân loại chỗ tài liệu ấy.

“Toàn bộ những tác phẩm chưa xuất bản của Newton về các chủ đề thần học và sự huyền bí nổi bật vì tính kĩ càng trong nghiên cứu, sự chính xác trong phương pháp và vẻ cực kì điềm đạm trong phát ngôn. Những tác phẩm ấy cũng tỉnh táo như cuốn Các nguyên lí, nếu như toàn bộ nội dung và mục đích của chúng không phải là pháp thuật. Hầu hết chúng được viết ra trong cùng thời gian hai mươi lăm năm ông nghiên cứu toán học. Chúng được chia ra thành nhiều nhóm.

Từ rất sớm trong đời mình, Newton đã từ bỏ niềm tin chính thống về Chúa Ba Ngôi… Ông đi đến kết luận này không phải dựa trên cái gọi là cơ sở lý trí hay hoài nghi, mà hoàn toàn dựa trên các tài liệu xác tín có từ thời cổ đại. Chúng đã làm cho ông tin rằng các sách thánh được biết đến đã không hề ủng hộ cho những giáo điều về Chúa Ba Ngôi, là những thứ được ngụy tạo sau này. Đức Chúa Trời được mặc khải chỉ là một Chúa duy nhất…

Một phần lớn khác là những tác phẩm đề cập đến đủ loại văn tự về khải huyền mà từ đó Newton cố gắng giải mã các chân lý bí mật của Vũ trụ – những kích thước Ngôi đền của Solomon, Cuốn sách của David, Sách Khải Huyền – một khối lượng khổng lồ mà một phần đã được ông cho xuất bản trong giai đoạn sau của đời mình…

Một phần lớn nữa, suy từ kiểu chữ viết tay thì là thuộc những ngày đầu tiên, đã liên quan đến thuật giả kim, thuật biến hóa, hòn đá triết học, thuốc trường sinh bất lão. Phạm vi và tính chất của những văn bản này đã được che giấu đi, hay ít nhất đã được giảm thiểu bởi hầu hết những người sau này có dịp tìm hiểu chúng…

Newton rõ ràng là một con người mê đắm không gì kìm giữ nổi… Dứt khoát không thể chối bỏ được rằng những cái này hoàn toàn là pháp thuật và không có một chút giá trị khoa học nào. Người ta cũng không thể không thừa nhận rằng ông đã bỏ công sức nhiều năm để viết ra chúng”.

Mặc dù Leonardo đã không hề xuất bản một cuốn sách nào hoàn chỉnh, nhưng các bài viết của ông thì thật phong phú. Những trang ghi chép đơn lẻ và rời rạc mà ông để lại đã được sắp xếp tương đối lộn xộn trong nhiều thế kỉ tiếp sau thành cuốn Bộ luật Atlantic bao gồm 1.222 trang, rõ ràng là không theo trật tự mà Leonardo đã viết ra. Trong những trang sách ấy, có những phát kiến đáng kinh ngạc của bộc óc sắc sảo nhất thời Phục hưng. Trong một dòng, Leonardo đã khẳng định niềm tin của mình: “Mặt trời không hề chuyển động”, và như vậy, đã đi trước cả Copernicus lẫn Galileo. Rất nhiều trang trong các ghi chép ấy chứa đựng một số lượng đáng kinh ngạc những bức vẽ bản đồ nhìn từ trên không, nước xoáy, cây cỏ, các hệ thống tưới tiêu lớn, các phác họa nghiên cứu giải phẫu sinh lí, và vô vàn các phác thảo nhìn nghiêng của mọi biến thể mặt người.

Bên cạnh những nét tương đồng thú vị khác của hai ông, thì cả hai nhân vật khổng lồ này còn phải đương đầu với những đối thủ có tầm vóc không kém phần đồ sộ như vậy. Trong trường hợp của Newton, đó là nhà toán học người Đức Gottfried Wilhelm von Leibniz; với Leonardo, thì là Michelangelo. Như người ta có thể dễ dàng hình dung ra, hiện diện sống của những trí tuệ có thể thách thức được với Newton và Leonardo đã dẫn đến các xung đột lớn giữa hai ông với những đối thủ của mình.

Năm 1676, qua một bên thứ ba, Leibniz đã có dịp đọc được các ghi chép của Newton liên quan đến phép tính vi tích phân. Sử dụng các phương trình của Newton, Leibniz tuyên bố là đã độc lập phát minh ra các phép tính này, và khi ông cho xuất bản phương pháp của ông, các trí thức Đức vô cùng tự hào rằng một người trong số họ đã có một cống hiến đầy ý nghĩa đến thế cho tư tưởng của loài người. Edmund Halley, một người Anh, biết được rằng Newton đã phát minh ra “phép biến đổi liên tục” (Newton đã gọi phép tính vi tích phân của mình như vậy) trước đó đến hai mươi năm, nhưng đã không chia sẻ với ai bởi bản tính kín đáo ít giao du của ông. Lo ngại về việc đòi quyền phát minh đầu tiên, Halley đã kêu gọi lòng yêu nước của Newton và thúc giục ông chủ động đòi công nhận cái vinh dự này. Newton ghê tởm hành động của Leibniz và cuối cùng cũng công bố khám phá của ông về phép tính vi tích phân bằng cách công bố nó trong các kỉ yếu của Hội Hoàng gia (tức Viện Hàn lâm Khoa học) Anh.

Sau đó, Newton viết nhiều thư cho Hội Hoàng gia kí tên khác nhau, đặt vấn đề nghi ngờ vinh quang của Leibniz và tiến tới đòi hỏi công nhận Newton mới là người đầu tiên phát minh ra phép tính vi tích phân. Newton đứng đằng sau một nhà khoa học khác là John Keil, ngầm bày cho ông này cách vặn hỏi về sự trung thực của Leibniz. Có một lần, Newton còn gợi ý cho Keil những lời lẽ cụ thể cần sử dụng và nói thêm: “Hãy so sánh chúng với tình cảm của chính ông và rồi rút ra Câu Trả lời mà ông thấy là đúng đắn nhất. Ông không cần phải gắn tên mình vào nó”. Cứ như vậy, bằng việc bôi bác nhân cách và ẩn giấu mình đi, Newton kiên trì đấu tranh để cuối cùng Hội Hoàng gia phải trao một cách đúng đắn cho ông cái vinh dự chính thức là người phát minh ra công cụ toán học vô cùng giá trị đó, mặc dù Leibniz là người công bố nó trước.

Xung khắc giữa Leonardo với Michelangelo cũng bộc lộ đầy đủ không kém sự khác biệt về tính cách của Leonardo và Newton. Theo lời Vasari, Leonardo và Michelangelo rất không ưa nhau. Leonardo, người khoái lối ăn mặc cầu kì và lúc nào cũng diện những mốt thời thượng nhất, thường buông những lời bình phẩm cạnh khóe về cái vẻ ngoài thô mộc như nhà quê mà Michelangelo thường thể hiện trong bộ quần áo làm việc của nhà điêu khắc phủ một lớp bụi đá nhờ nhờ. Những lời nhận xét ấy đến tai Michelangelo và chúng chẳng làm ông thân thiết gì thêm với nhà họa sĩ. Khi Michelangelo biết được tin Quận công Sforza, tổng trấn Milan, đã đặt Leonardo đúc một bức tượng kị sĩ, ông cười khẩy khinh miệt, cho rằng gã họa sĩ tài tử ấy sẽ không bao giờ có thể hoàn thành nổi một công việc như vậy.

Leonardo, tất nhiên, quyết chí thực hiện bằng được nhiệm vụ này. Đã có rất nhiều tượng đài người cưỡi ngựa, và Leonardo quyết tâm sáng tạo ra một cái gì đó mà thế giới chưa từng được chứng kiến. Ông quyết tạo ra một tác phẩm không những chỉ có một vẻ đẹp kì vĩ mà còn là bức tượng người cưỡi ngựa lớn nhất, táo bạo nhất mà con người đã từng nghĩ ra.

Khi Leonardo hoàn thành bản mẫu bằng đất sét, bức tượng trông huy hoàng đến mức dân chúng vật nài ông cho đặt nó ở quảng trường chính của thành phố để mọi người chiêm ngưỡng nó trong nắng. Trong khi đó, người nghệ sĩ bận bịu với những chi tiết kĩ thuật của việc đổ khuôn và thông báo cho người bảo trợ là Quận công Sforza rằng ông cần khoảng một trăm nghìn cân đồng. Sforza ngoan ngoãn bắt đầu cho thu thập một khối lượng lớn đến sửng sốt thứ kim loại đắt tiền ấy, nhưng cũng không quên phàn nàn về việc đã dở hơi đặt làm một bức tượng lớn và tốn kém đến vậy. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, Sforza thấy mình đang bị áp lực của các quân đoàn nước Pháp đe dọa sát cổng thành nhà mình. Ông ta bèn chuyển mục đích đối với số đồng đã gom góp định làm bức tượng của Leonardo, ra lệnh đúc chúng thành súng thần công hết. Chán nản, Leonardo kín đáo bỏ Milan về Florence.

Con ngựa cuối cùng chịu số phận tử vì đạo như Thánh Sebastian. Khi các đội quân đánh thuê Pháp phá vỡ được các cổng thành, họ chạm trán với một quảng trường chính trống rỗng, không có gì ngoài một con ngựa đất sét sừng sững, như một phiên bản ngược của con ngựa thành Troy đối với họ. Trong cơn mừng vui chiến thắng tiếp sau đó, đám lính say bét nhè bắt đầu bắn tên vào chú nghẽo[1] không có gì che đỡ ấy, và tiếp tục như thế thâu đêm. Sáng ra, các mũi tên được lấy đi và con ngựa tử thương bị để mặc cho mưa nắng. Nước mưa ngấm vào các đường nứt do tên gây ra, và chỉ vài tháng sau, hiệu ứng xói lở đã làm cho con ngựa bở vụn ra hoàn toàn.

Sau đó có một hôm ở Florence, Leonardo đi qua một tốp thanh niên đang đàm luận về cuốn Luyện ngục của Dante. Họ nhờ Leonardo giải thích đúng lúc Michelangelo, người cũng sống ở Florence đang tư lự bước vòng qua góc quảng trường. Michelangelo nổi tiếng là người nhiệt thành nghiên cứu các tác phẩm của Dante. Rất nhã nhặn, Leonardo đáp: “Có Michelangelo đây, chúng ta sẽ đi hỏi ông ấy, vì ông ấy là người biết rõ”. Tuy nhiên, Michelangelo hiểu lầm và ngỡ rằng Leonardo giễu cợt mình. Ông nổi khùng:

“Tự ông hãy đi mà giải thích! Ông đã thiết kế ra một con ngựa và định đúc nó thành tượng đồng, thế rồi không đúc nổi, ông đã hèn nhát bỏ của chạy lấy người. Mà cái đám gà sống thiến Milan ấy lại tin ở ông mới chết chứ!”

Leonardo đỏ tía mặt nhưng không đáp lời, xoay gót bỏ đi. Hai con người khổng lồ ấy không bao giờ còn nói chuyện với nhau nữa, nhưng Leonardo – như chúng ta đã biết – không hề bôi bác hay viết gì xấu về Michelangelo. Newton thì ngược lại, tiếp tục phỉ báng Leibniz ngay cả sau khi kẻ thù của mình đã chết.

Trong kho các trước tác đồ sộ của cả hai ông, những phát ngôn riêng tư vắng bóng một cách đến ngạc nhiên. Ví dụ, khi nhận được tin cha mình qua đời, Leonardo đã ghi một đoạn bình thản như sau trong nhật kí:

“Ngày thứ tư, mồng chín tháng Bảy năm 1504, vào lúc bảy giờ, ông Piero da Vinci, công chứng viên tại cung điện nhà Podesta, cha tôi, đã chết. Ông thọ tám mươi tuổi, để lại mười con trai và hai con gái”.

Tương tự như vậy, Newton cũng hầu như không nói gì về những đam mê sôi sục có thể nằm dưới cái vẻ bề ngoài rắn lạnh như đá hoa cương của ông. Các trận cãi nhau của Newton với Hooke, Flamsteed và Leibniz đã cho chúng ta cái nhìn gián tiếp vào bản tính của ông, nhưng về những ý nghĩ riêng của mình, ông đã cho chúng ta biết rất ít.

Hai thiên tài cô đơn này cùng chung một đam mê về sự bí mật, họ đều yêu thích việc giải mã và mã hóa các văn bản. Trong thư từ trao đổi với Leibniz, Newton đều che giấu phép vi tích phân của mình dưới dạng mật mã. Thời gian ông thiết lập nên các định luật dẫn dắt chúng ta hiểu biết về cơ học thiên thể cũng là thời gian ông vùi đầu cố giải mã những chỉ dẫn bí hiểm của các nhà giả kim thuật cổ đại. Leonardo, người có nét chữ hầu như không thể luận ra được, cũng soạn mật mã và thích thú với việc lần mò giải các thông điệp bí hiểm truyền lại từ quá khứ.

Tuy nhiên, ở một vài phương diện, Leonardo và Newton hoàn toàn không giống nhau. Ở một phía, Newton là bức biếm họa về một thiên tài khoa học nhất diện, Aldous Huxley đã viết, “với tư cách một con người, ông là một thất bại, nhưng với tư cách một con quái vật, thì ông thật xuất sắc”. Sau này trong cuộc đời, khi trở thành quan cai quản Sở đúc tiền, Newton có vẻ khoái trá đến quá quắt với việc tra hỏi những kẻ làm tiền giả và dự các cuộc treo cổ chúng với sự thích thú mãnh liệt. Thái độ của ông đối với những mặt bay bổng của cuộc sống thật u ám. Timothy Ferris viết: “Newton có cái tai điếc đối với âm nhạc, coi các tác phẩm điêu khắc vĩ đại là “những con búp bê đá” và nhìn nhận thơ ca “là một loại trò vô nghĩa khéo léo”.

Ở phía kia, Leonardo là một con người thời Phục hưng mẫu mực, Ông được tiếng là nhã nhặn, rộng lượng; và mặc dù là một con người cô đơn, ông là một nhạc sĩ tài năng, một người trò chuyện dễ chịu và thông thái. Leonardo dần đã tạo cho mình một triết lý giống như của Thánh Francis của thành Assisi. Ông có một lòng sùng kính tất cả các sinh vật và thường mua các con chim bị bắt để rồi phóng sinh chúng. Ông trở thành người ăn chay vì ông tin rằng người ta không nên giết bất kì một sinh vật nào cả.

Nhưng lại có một nghịch lý mà trong đời Newton không hề có một điều nào tương tự. Leonardo, người nổi tiếng là không làm hại đến cả một con ruồi, lại đã tỏ ra lãnh đạm đến kì quặc đối với các cỗ máy chiến tranh của ông. Trong sự nghiệp của mình, Leonardo đã sáng chế ra những thiết bị tàn bạo nhất để nghiền xé da thịt binh lính địch. Không hề có một thoáng ân hận đạo đức nào, ông đã vui vẻ nhận làm việc cho Cesare Borgia khét tiếng tàn ác và chỉ rời bỏ chức vụ kĩ sư quân sự của Borgia khi ông phát hiện ra rằng một cộng sự của ông, cùng làm việc cho Borgia, đã bị ông chủ của cả hai người xiết cổ đến chết vì một lý do không biết nào đó.

Có lẽ các nhà sử học đã không ghép cặp được hai thiên tài này bởi vì chúng ta quen học lịch sử như một bản ghi lại các thành tựu. Di sản của Newton đã hoàn toàn thay đổi cách mà nền văn minh phương Tây nghĩ về thế giới, còn Leonardo được gọi là một thiên tài đã không để lại cho hậu thế bất kì cái gì có thể làm thay đổi cách tư duy của chúng ta. Nhưng kiểu phê phán ấy đã không thấy được điểm trọng yếu. Dùng chổi lông và bút sắt, Leonardo đã làm thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới, và sự chuyển dịch tinh tế về tâm thế ấy đã chuẩn bị cho con người chấp nhận được Newton, khi ông đưa ra một cách thức mới để tư duy về thế giới. Lại một lần nữa sự phát hiện của người nghệ sĩ đã đi trước khám phá của nhà khoa học. Ở một trong những phát ngôn nổi tiếng của mình, Newton đã nhắc tới các nhà khoa học tiền bối: “Nếu tôi đã nhìn được xa hơn những người khác, chính là vì tôi đã đứng trên vai những người khổng lồ”. Theo truyền thống, những người khổng lồ ấy thường được cho rằng bao gồm Copernicus, Descartes, Galieo và Kepler. Với nhóm người lừng lẫy này, tôi muốn thêm cái tên Leonardo.

Chú thích

  1. Bước lên Nguyên văn cavallo (tiếng Italia). – ND

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
  • Nguồn đăng bài kipkis.com
Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *