Kiến trúc - Hội hoạThưởng thức nghệ thuật

Nghệ thuật và Vật lý – Chương 3: Thiêng liêng/phàm tục

Mọi tò mò đều hết sau khi có Jesus; mọi nghiên cứu đều chấm dứt sau khi có Phúc Âm. Xin hãy ban cho chúng con Niềm Tin và chúng con xin không ước mong gì hơn nữa.

Tertullan, một người La Mã thế kỉ thứ ba cải đạo sang Cơ đốc giáo

Đạo Cơ đốc thời sơ khai dựa trên niềm tin rằng Kinh Thánh, cuốn sách ra đời với mục đích chứa đựng Lời của Chúa, là bất khả nhầm lẫn. Vì tất cả các câu trả lời cho tất cả các câu hỏi đều sẽ được tìm thấy ở giữa hai tờ bìa của cuốn sách, nên về cơ bản các luật của logic học đã bị loại bỏ từ năm 400 đến năm 1250 sau CN. Thánh Augustine, nhà kiến trúc có ảnh hưởng nhất của tư tưởng thời Trung cổ, đã tước bỏ hiệu lực của các chân lý phải vất vả lắm mới có được của thời cổ đại, khi trong cuốn Thành phố của Chúa (năm 415 sau CN), ông tuyên bố:

“Khi… Câu hỏi được đặt ra là chúng ta sẽ tin những gì liên quan đến tôn giáo, thì không cần thiết phải đi tìm hiểu bản chất của tự nhiên, như những kẻ mà người Hi Lạp gọi là các physici, đã làm… Người theo đạo Cơ đốc chỉ cần tin rằng nguyên nhân duy nhất của mọi vật đã được sáng tạo ra… dù là ở trên trời hay dưới trần thế… là do lòng từ bi của Đấng Sáng thế – Đức Chúa chân chính duy nhất”.

Không gian liên tục của Euclid đã rạn nứt và vỡ vụn dưới sức nặng đầy quyền uy của Tân Ước và Cựu Ước. Trong phép trắc đạc thần học này, không gian trở nên rời ra thành từng mảnh. Nó bị mất đi tính đồng nhất và không còn đo lường được nữa. Thiên đường thì ở trên cao còn địa ngục thì ở dưới sâu, cả hai đều không liên quan gì đến không gian của những diễn biến hàng ngày. Như nhà nhân học Mircea Eliade đã viết trong cuốn Những điều thiêng liêng và những điều phàm tục của mình: “Đối với một con người có đạo, không gian không phải là đồng nhất, anh ta trải nghiệm qua những ngắt đoạn, những đứt gãy trong đó”. Sự chấp nhận phổ biến này về những “vùng” không liên thông với nhau của không gian đã làm cho không gian bị phân mảnh sâu sắc hơn về mặt khái niệm. Nơi mà các thủy thủ rơi tụt xuống khi đi qua rìa cùng của trái đất là một nơi có bản chất khác hẳn với cái không gian quen thuộc ở quê nhà. Thậm chí thiên đường cũng được chia nhỏ ra: miền xa nhất là miền tinh khiết nhất và được gọi là tầng trời thứ bảy.

Bức tranh bao trùm thế giới Cơ đốc thời Trung cổ là bức tranh về trái đất như một cái bàn phẳng nằm trong một căn hầm kín khổng lồ, có trần của nó là các tầng trời. Không một ai biết chắc cái gì ở cao hơn cái trần đó, hay tương tự như vậy, cái gì ở dưới gầm bàn. Đấy là những miền không gian tâm linh, và vì thế, vượt qua tầm trừu tượng hóa của con người – không thể lập ra bản đồ của chúng được bằng các đường thẳng của Euclid hay bằng các định đề trong môn hình học phẳng của ông.

Khi không gian đã bị vỡ, thì kiến thức về bảng chữ cái cũng lặng lẽ trượt vào trong những kẽ nứt của nó. Mù chữ trở thành quy phạm. Ở châu Âu của năm 800 sau CN, ròng rã năm thế kỉ trước đó không có một người thường nào, từ vua chúa và hoàng đế trở xuống, lại biết đọc biết viết. Trong các tu viện, những người nào còn biết đọc biết viết thì bị nhốt riêng ra để phân biệt ra giữa phàm tục và thần linh. Chỉ sau một số năm tương đối ngắn ngủi, các lời thề giữ im lặng đã thay thế cho các giọng nói tranh biện.

Trong kỉ nguyên ban đầu của Cơ đốc giáo, thời gian cũng bị mất đi tính tuyến tính tuần tự và liên tục đã được ghi nhận ở thời cổ điển. Tương tự như không gian, thời gian bị vỡ ra thành những mảnh nham nhở. Theo Thánh Augustine, đã không có gì đã xảy ra trước Sáng thế kí. Thời gian bắt đầu với việc Chúa sáng tạo ra vũ trụ vào năm 5000 trước CN và sẽ kết thúc vào Ngày Phán xử cuối cùng. Tại thời điểm đó, tương lai sẽ biến mất và sẽ được thay thế bằng vĩnh cửu, đó là một loại thời gian khác hẳn về chất.

Vĩnh cửu khác với tương lai ở chỗ những quy tắc nhân quả thì chi phối tương lai, nhưng lại vắng bóng trong vĩnh cửu. Trong vĩnh cửu, không có cái gì “xảy ra” cả. Trên thiên đường không có lịch sử, bởi vì không có “sự kiện” nào để ghi lại cả. Sinh ra, chết đi, yêu đương, học hành, làm việc, có con – không một cái nào trong số các cột mốc quan trọng đánh dấu thời gian trên trái đất ấy lại có thể xảy ra trên thiên đường. Nơi mà vĩnh cửu xảy ra lại là nơi không có liên hệ gì với lĩnh vực của con người. Như Thánh Augustine đã chỉ ra, thời gian là một đặc thù của thế giới mà Chúa đã tạo nên. Bởi vì chính Chúa đã tạo ra thời gian, nên thật phi lý nếu tin là Chúa tồn tại ở trong đó (Chúa sẽ đứng ở đâu trước khi Người tạo nên không gian và thời gian? – Thánh Augustine hỏi). Thời gian thần thánh không thể đồng bộ được với thời gian trần thế, bởi vì chúng khác nhau một cách cơ bản.

Cuộc đời của Jesus có tầm quan trọng cốt tử đối với Cơ đốc giáo giai đoạn sơ khai đến mức các sự kiện trung tâm của nó đã có ảnh hưởng lớn đến niên lịch, tư tưởng và nghiên cứu. Thời gian của thế giới bị chậm lại, trở nên nhòa đi trong các sự kiện quá khứ khi sự chú ý của đạo Cơ đốc xoáy vào những gì đã từng xảy ra trong cuộc đời của Jesus. Quá khứ, hiện tại, tương lai vẫn còn na ná như một chuỗi nối tiếp, nhưng đã bị làm sờn đi và bị tháo rời ra khỏi nhau, giống như không gian đã bị xé ra và ngắt thành từng đoạn. Nhà phê bình nghệ thuật đương đại José Argúelles, thừa nhận sự chuyển hướng đột ngột trong ý niệm về thời gian này, đã viết:

“Nguồn gốc của sự hiểu sai này được tìm thấy trong học thuyết Cơ đốc chính thống về tính vô song của sự kiện Christ, cái sự kiện mà chỉ mình nó đã đem lại ý nghĩa cho tất cả những sự kiện khác. Từ sự kiện Chúa Jesus ra đời đến sự kiện Trở Lại Lần Thứ Hai, dưới con mắt của Cơ đốc giáo, tất cả hoạt động của con người đều xảy ra trong những đơn vị không thể lặp lại được, cứu rỗi chỉ có thể xảy ra bằng mối quan hệ với việc Chúa ra đời. Học thuyết này mang tính tuyệt đối hóa và đơn hẹp đến đáng sợ. Nó phá vỡ quan điểm truyền thống phổ biến trong hầu hết các nền văn hóa trên thế giới, coi thời gian là tuần hoàn và ý nghĩa của sự tồn tại của Con người là có liên quan tới những mẫu hình tái lặp nào đó của vũ trụ”.

Truyền thống vật lý và nghệ thuật cổ điển vĩ đại của phương Tây đã bị phá hủy và nghiền nát thành tro bụi. Bên cạnh việc đốt sách tràn lan, các cha cố đầy nhiệt huyết của Nhà thờ đã tiến hành xóa sạch mọi tác phẩm nghệ thuật còn lại từ thời cổ điển. Vào thế kỉ nười sáu, Vasari, nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật đầu tiên sau thời Trung cổ, ngoảnh nhìn lại những màn sương mù và bãi lầy ấy của đời sống con người, than khóc về cuộc tàn sát những nạn nhân vô tội đến không thể tin nổi đó. Trong cuốn sách Cuộc đời các nghệ sĩ của ông, Vasari (xúc động sâu xa bởi thiên kiến của mình) đã tả lại cuộc diệt chủng cái đẹp ấy.

“Nhưng cái đã gây ra thiệt hại và tổn thất không thể so sánh nổi cho nghệ thuật hơn cả những gì chúng ta đã nhắc tới, là sự nhiệt tình sôi sục của tôn giáo mới mang tên Cơ đốc. Sau một cuộc chiến lâu dài và đẫm máu, được trợ giúp bởi một loạt phép mầu và lòng chân thành đến cháy bỏng của các tín đồ, đạo Cơ đốc đã đánh bại và xóa bỏ được tín ngưỡng cũ của những người đa thần giáo. Rồi với sự cực kì hăng hái và cần mẫn, nó đã nỗ lực loại bỏ và phá hủy hoàn toàn mọi khả năng tồn tại cuối cùng của tội lỗi. Để làm thế, nó phá hỏng hoặc đập tan tất cả những bức tượng tuyệt mĩ, bên cạnh các tác phẩm điêu khắc khác, là các bức họa, các tranh ghép, các đồ trang trí thể hiện những vị thần giả dối của đa thần giáo. Nó cũng đã hủy hoại vô số các kỉ vật và văn tự được lưu giữ để tôn vinh những con người vinh quang đã được các thiên tài thời cổ đại tưởng niệm bằng các tượng đài và các công trình trang hoàng khác ở nơi công cộng. Hơn thế nữa, để xây dựng các nhà thờ hành lễ theo đạo của mình, những người Cơ đốc đã phá hủy các đền thiêng thờ những vị thần đa thần giáo. Để tô điểm và khuyếch trương vẻ huy hoàng vô song của Thánh Peter, họ đã lấy đá từ các cây cột của lăng mộ Hadrian (ngày nay gọi là Castel Sant’Angelo) và đối xử theo cách ấy với nhiều tòa kiến trúc khác mà phế tích của chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Những điều trên được người Cơ đốc thực hiện không phải do lòng căm thù đối với các ngành nghệ thuật, mà nhằm làm nhục và hạ bệ các vị thần đa thần giáo. Tuy nhiên, sự hăng hái mãnh liệt ấy của họ phải chịu trách nhiệm về việc đã giáng một đòn chí tử vào hoạt động của các ngành nghệ thuật, khiến cho chúng khi ấy rơi vào hỗn loạn hoàn toàn.

Rồi dường như các thảm họa này là còn chưa đủ, Rome lại chịu thêm cơn thịnh nộ của vua Totila: các tường thành của thành phố bị phá hủy, những tòa nhà thiêng liêng và đẹp nhất của nó bị khói lửa và gươm đao san thành bình địa. Rome bị đốt cháy từ đầu này đến đầu kia, trơ lại không một bóng sinh vật còn sự sống, để mặc cho những đợt tàn phá của cơn đại hỏa tai. Trong mười tám ngày ròng rã, không một sinh vật nào còn động đậy. Vua Totila cho kéo sập và phá tan tành các pho tượng tuyệt vời của thành phố, những bức họa, các tấm tranh ghép, các bức bích họa. Kết quả là Rome đã bị mất đi – tôi muốn nói không những chỉ là vẻ huy hoàng – mà là cả nhân dạng và chính sự sống của nó… Cuối cùng, không còn sót lại một vết tích nào dù là nhỏ nhất của một nền nghệ thuật chân chính”.

Hậu quả của việc phá hủy tư tưởng và nghệ thuật Hi-La đã dẫn tới những đêm trường của các Kì nguyên Tăm tối. Đám sương mù chống lại tư duy duy lý bao phủ nhiều thế kỉ đầu của thời Trung cổ dày đặc đến nỗi các nghệ sĩ xuất hiện ở giai đoạn trung và hậu kì Trung cổ đã không có truyền thống nào để dựa vào đó mà làm nên các tác phẩm của mình. Họ buộc phải tạo ra các hình thức mới. Bước đi đầu tiên của họ sẽ chứa đựng sự phản ánh chính xác những suy nghĩ của nền văn hóa rộng lớn hơn về không gian, thời gian và ánh sáng.

Nhà thờ buổi ban đầu thường có các bức tường trống mênh mông. Vì sự biết chữ đã bị mất đi, người ta phải xoay sang dùng những hình ảnh đơn giản để kể câu chuyện về Chúa Jesus Christ. Ở phần trên của các bức tường nhà thờ và thường là phủ kín các mái vòm, một hình thức nghệ thuật mới mẻ đã xuất hiện, trở thành ẩn dụ hoàn thiện cho những quan niệm Cơ đốc giáo thời kì đầu về không gian: tranh ghép – một tập hợp lớn các mảnh kính và gạch men hình vuông bé xíu nhiều màu sắc được ghép với nhau rất tỉ mỉ (Hình 3.1). Cái mặt phẳng lấp lánh của những tesserae(“hình vuông”) phản chiếu ấy đã hòa tan tính vật chất của vật liệu thành một hình ảnh phi vật chất, nhấn mạnh thông điệp cơ bản của Phúc Âm.

Christ-h-s.jpeg

Hình 3.1. Chân dung Christ, Tranh ghép thời byzantine (cuối thế kỉ mười lăm đầu thế kỉ mười sáu), Cung điện Tổng giám mục, Ravenna (Italia). BẢO TÀNG MĨ THUẬT METROPOLITAN, QUỸ JOHNSTON, 1924

Mặc dù người Hi Lạp và La Mã cũng đã từng dùng tranh ghép trên các nền nhà lát gạch men của mình, nhưng hình thức nghệ thuật này chưa đạt tới độ phát triển đầy đủ của nó cho đến thời kì đầu của kỉ nguyên Cơ đốc giáo. Tranh ghép phá không gian ra thành các mảnh tách bạch nhau rất rõ ràng, nhưng đồng thời nó lại tạo nên một hình ảnh rất gắn kết.

Trong cả tranh ghép và thần học Cơ đốc giáo, không gian là gián đoạn, không liên tục. Tuy nhiên, các miền không gian lại được kết nối với nhau ở một cấp độ tâm linh thật huy hoàng. Cái cấp độ cao hơn ấy đã tái thống nhất những cá thể riêng biệt trong thế giới Cơ đốc và các mảnh không gian rời rạc thời Trung cổ lại với nhau thành một sự liên tục không hề có đường nối. Mỗi một mảnh trong bức tranh ghép là một phần nhỏ, nhưng tập hợp các phần nhỏ ấy lại tạo nên một tổng thể lớn hơn tổng số học của chúng. Cả bức tranh ghép lẫn lý luận thần học đều lấy cùng một niềm tin ấy về không gian và cuộc sống làm tiền đề cho mình. Không gian gián đoạn, không liên tục cũng trở nên đặc trưng cho các tấm bích họa, các bức tranh và sau này là các cửa sổ kính màu.

Thông điệp tinh tế trong hình thức tranh ghép đã thẩm thấu vào mọi phương diện của quan niệm về không gian của Cơ đốc giáo thời kì đầu. Hệ thống phong kiến, đại diện cho những tàn dư rạn nứt của chế độ quan liêu tập quyền thời Đế chế La Mã, đã tạo ra một bức tranh đố ghép hình của toàn bộ bản đồ châu Âu. Tiếng Latin bao trùm, trôi chảy và yên lòng người đã vỡ ra thành hàng ngàn phương ngữ và thổ ngữ. Văn bản chữ Gothic thời kì đầu loằng ngoằng và khó đọc: một trang chữ trông không khác gì một bức tranh ghép trên tường, có lẽ để xem hơn là để đọc. Từ “text” (văn bản) trong tiếng Anh bắt nguồn từ chữ textura của tiếng Teuton, thực sự có nghĩa là “tapestry” (tấm thảm thêu). Mỗi một chữ cái Gothic trong tấm thảm thêu ấy tương tự như một miếng thủy tinh lấp lánh của một bức tranh ghép trên tường.

Bản thân các cuốn sách cũng chứa đựng các đoạn viết của nhiều người, nối tiếp nhau một cách lung tung, không chú ý gì đến tính tác giả. Mỗi một bàn thảo thời kì đầu này thực sự cũng là một bức tranh ghép các suy nghĩ của nhiều nhà tư tưởng và bình luận khác nhau. Các họa sĩ vẽ những bức bích họa giai đoạn đầu, làm việc một cách vô danh, đã không đối xử với không gian theo một trật tự hình học nhất quán và chặt chẽ. Ngược lại, các nghệ nhân vô danh này đã dùng không gian để thể hiện một mớ lộn xộn các hình ảnh không liên quan gì đến nhau nhưng được đan dệt vào nhau trong cùng một tầng biểu tượng.

Vào lúc khởi đầu, nghệ thuật Cơ đốc giáo cũng đã phản ánh một quan niệm khác về thời gian. Bằng việc xóa hẳn các quy tắc của tính nhân quả, các lời tiên tri đã chiến thắng lý trí và chủ nghĩa thần bí đã cùng chia sẻ sân khấu với ngu muội và mê tín. Vì các nghệ sĩ Cơ đốc thời kì đầu đã từ bỏ các quy tắc nhân quả tuyến tính – những thứ vô cùng quan trọng đối với hình mẫu Hi Lạp trước đó – nên tương tự như vậy, các khung thời gian trong nghệ thuật của họ cũng mang tính co dãn, không tuyến tính.

Trong cuốn Ngôn ngữ của thị giác của mình, nghệ sĩ Gyorgy Kepes đã chỉ rõ:

“Các họa sĩ thời kì đầu Trung cổ thường lặp lại nhiều lần hình ảnh nhân vật chủ đạo trong cùng một bức tranh. Mục đích của họ là biểu đạt tất cả những mối quan hệ tác động lên nhân vật đó và họ nhận ra rằng việc này chỉ có thể thực hiện được bằng cách mô tả cùng một lúc những hành động khác nhau”.

Việc thể hiện cùng một hình ảnh chiếm hơn một chỗ và trong hơn một tư thế là một sự vi phạm trắng trợn các quy tắc về logic và tính trình tự. Theo hình học Euclid, một điểm không thể chiếm quá một chỗ. Hơn nữa, khi một nhân vật thực hiện nhiều hành động trong cùng một bức vẽ, các thời điểm khác nhau sẽ đồng thời quy tụ và vì thế vi phạm các nguyên lý của tính nhân quả. Các nghệ sĩ Trung cổ đã chẻ thời gian ra giống như họ đã phá vỡ không gian. Georges Poulet, nhà phê bình nghệ thuật đương đại, đã viết trong cuốn Nghiên cứu về thời gian của con người:

“Đối với người thời Trung cổ, như vậy không phải chỉ có một khoảng thời gian. Có nhiều khoảng thời gian, cái này chồng lên trên cái kia, và không phải chỉ phổ biến ở cái thế giới bên ngoài mà còn cả ở bên trong chính anh ta, trong bản chất của anh ta, trong chính sự tồn tại của con người anh ta”.

Thời gian không còn được cảm nhận như một mũi tên hình học thẳng tắp nữa. Thay vào đó, nó uốn quanh co đi vào nhiều miền khác nhau, phàm tục và thần thánh. Hậu quả là lưỡi dao sắc bén của logic phân tích đã bị cùn đi, và không còn có thể dựa vào lý trí để sắp xếp các sự kiện theo trật tự đúng của chúng được nữa. Nếu các sự kiện đã không còn theo một trình tự đúng đắn, thì suy luận logic trở nên vô dụng.

Tương tự như các khái niệm về không gian và thời gian bao trùm thời Trung cổ đã khác với các khái niệm thời Hi Lạp, ánh sáng trong tư duy Cơ đốc giáo thời kì đầu cũng thôi không còn chỉ thuộc về thế giới bên ngoài. Theo các niềm tin tôn giáo này, ánh sáng đã không từ một nguồn nào đó đi xuyên qua không gian và thời gian. Thay vào đó, ánh sáng là một biểu hiện ngoại chất của Linh hồn, là một cầu nối thế giới này với một thế giới khác. Ánh sáng phát xuất từ linh hồn và các tia sáng là cỗ xe mà linh hồn có thể sử dụng để đi từ một không gian này sang không gian khác, hay từ thời gian này sang thời gian khác. Các nghệ sĩ đã miêu tả ánh sáng như một bản chất của linh hồn, trong vầng hào quang lấp lánh quanh đầu, hoặc trong vẻ rạng rỡ toát ra từ bên trong nhân vật.

Chính từ các con chữ trong Kinh Thánh mà ánh sáng thần thánh đã ngời lên. Origen, một cha đạo nhà thờ Hi Lạp đầu thế kỉ mười ba đã ca tụng quan niệm này:

“Phúc thay những cặp mắt nào được nhìn thấy thánh thần thiêng liêng qua bức màu các con chữ”.

Cặp nghĩa kép của từ gloss (bóng, láng) đã bộc lộ ý niệm về sự thắp sáng mang tính chất tâm linh đối với các chữ cái của các từ trong Kinh Thánh. Vốn có nguồn gốc từ một từ Latin mang nghĩa là “lưỡi”, giờ đây gloss đã có thêm một nghĩa mới. Cái gì bóng, láng thì sẽ tỏa sáng. Sự tỏa sáng ấy chính là Lời của Chúa truyền qua các con chữ. Gloss đã thả ánh sáng ra từ trong văn bản. Các cuốn sách được “soi sáng” để ánh sáng có thể đi qua hơn là chảy trên trang giấy. Như vậy, cả hai từ tiếng Anh ngày nay của chúng ta glossary (“bảng từ ngữ”) và glossy (“bóng loáng”, “hào nhoáng”) đều có nguồn gốc từ sự lẫn lộn ban đầu ấy, liên quan tới ý nghĩa thực của cái nền trắng mà trên đó các con chữ được viết ra.

Quan niệm cho rằng ánh sáng là một tính chất có thể đâm xuyên vật chất là một trong những niềm tin cơ bản của thời đại tín ngưỡng. Ánh Sáng không những chỉ kết nối các linh hồn và thắp sáng làm nền cho thông điệp của Kinh Thánh, mà nó còn có thể đi xuyên qua vật rắn. Trong cuốn Nhà thờ Gothic của mình, Otto von Simson đã miêu tả đặc tính độc nhất vô nhị này của ánh sáng thời Trung Cổ:

“Trong một nhà thờ kiểu Roman, ánh sáng là một cái gì đó tách biệt và đối lập với với chất liệu nặng nề, ảm đạm, sờ thấy được của các bức tường. Bức tường Gothic dường như có những lỗ thủng li ti: ánh sáng lọc qua đấy, bao trùm lên nó, hòa quyện vào nó, biến đổi hình dáng của nó… Ánh sáng, thường bị vật chất che lấp mất, đã hiện ra như một nguyên lý chủ động; và vật chất chỉ trở nên thực một cách huy hoàng khi nó tham gia và được chiếu rọi rõ bởi sự rực rỡ của ánh sáng… Vì thế, ở phương diện quyết định này, kiến trúc Gothic có thể được mô tả là một thứ kiến trúc trong suốt và trong mờ”.

Mặc dù ánh sáng có một đặc tính huyền bí cho phép nó tỏa sáng qua vật chất, nhưng những người thợ thủ công thời Trung cổ tái khám phá ra thủy tinh về cơ bản cũng đã không dẫn tới việc xây dựng các cửa sổ để tín đồ có thể nhìn xuyên qua. Không hề có một cửa sổ trong bất kì phòng hội họp nào của giáo đoàn được đặt ngang tầm mắt. Ngược lại, thợ xây đã bố trí các cửa sổ kính màu ở cao trên tường nhà thờ, chỉ cho ánh sáng từ trên rọi xuống. Hiệu ứng của những tia sáng đa sắc lăn tăn nô đùa trên các cột mảnh mai bên trong nhà thờ đã làm tăng thêm cái ý niệm rằng vật chất là vô nghĩa và không cần phải đáng quan tâm. Ánh sáng là Thần linh. Nhà thờ không phải là một nơi mà những con người trần thế bình thường cần được nhắc nhở hay bị xao nhãng tâm trí bởi sự tồn tại khắc nghiệt và phàm tục của một thế giới “thực” ở bên ngoài kia.

Thế giới quan Cơ đốc giáo về không gian, thời gian và ánh sáng đã ngự trị tư tưởng phương Tây hơn một nghìn năm. Trong cái thời của tín ngưỡng ấy, khoa học đã được thay thế bởi một hệ thống niềm tin thần học phức tạp, độc đáo. Người nghệ sĩ, bắt đầu từ chỗ hầu như không biết gì, đã tạo nên các ẩn dụ để diễn tả tính thần của thời đại. Tranh ghép đã trực tiếp khẳng định một quan niệm mới về không gian, thời gian và ánh sáng cũng như các mặt khác của cái thời đại đã bị rời ra từng mảnh ấy. Trong một quãng dài dằng dặc hàng ngàn năm, phản ứng cơ bản này đối với thế giới quan thời cổ điển đã kéo dây lò xo căng hết cỡ về hướng đối lập, đến mức khi nó bật lại, nó đã đưa nền văn minh phương Tây vượt xa cái mốc mà những người Hi Lạp thời cổ đại đã lập nên.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
  • Nguồn đăng bài: kipkis.com
Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *