Kiến trúc - Hội hoạThưởng thức nghệ thuật

Nghệ thuật và Vật lý – Chương 2: Nghệ thuật cổ điển, triết học lý tưởng

Các đường thẳng song song đều không gặp nhau ở hướng này hay hướng kia.

Euclid

Mọi cái hoặc là nó, hoặc không phải là nó.

Aristotle

 

Không gian, thời gian và ánh sáng đã tạo ra một mối quan tâm sâu xa đối với cả nghệ sĩ lẫn nhà vật lí. Từ thời Hi Lạp cổ đại, các nhà triết học tự nhiên đã liên tục cố gắng lý giải những mối quan hệ giữa ba cái này. Tương tự như vậy, các họa sĩ và nhà điêu khắc cũng đã bỏ không biết bao nhiêu công sức để tìm hiểu mối tương tác giữa không gian, thời gian và ánh sáng.

Tuy nhiên, bất chấp việc sử sách đã ghi lại sự vô cùng đa dạng trong các nền văn minh, người ta chỉ thấy có một vài mô hình về không gian, thời gian và ánh sáng. Mặc dù có những khác biệt đến kinh ngạc trong những hệ tư tưởng rất xa cách nhau như hệ tư tưởng của người Ai Cập cổ đại, người Ấn Độ cổ đại và thổ dân châu Úc; nhưng nhìn chung, thì họ lại giống nhau ở chỗ cho rằng không hề có đường phân định rạch ròi giữa cái không gian “ở đây” của trí tưởng tượng hay hiện thực “chủ quan” với cái không gian “ngoài kia” của hiện thực “khách quan”. Thực tế, chính việc trộn lẫn không gian bên trong của các giấc mơ, những cơn lên đồng và các huyền thoại với những sự kiện của tồn tại hàng ngày đã làm nên các đặc trưng của mọi hệ thống tín ngưỡng trên toàn thế giới trước thời Hi Lạp. Bên cạnh đó, trong tất cả những nền văn hóa tín ngưỡng ấy, thời gian còn chưa được đưa vào một con suốt xe sợi để được gỡ dần ra với một tốc độ đều đặn. Thay vào đó, nó vòng vo nhảy qua nhảy lại giữa hài miền hiện thực và huyền thoại.

Bằng việc tạo ra phép hoài nghi duy lí, các triết gia Hi Lạp cổ đại đã làm cho hệ thống của mình tách biệt hẳn với các hệ thống khác vốn chỉ dựa trên những tín ngưỡng tôn giáo. Người Hi Lạp cổ đại bắt tay vào tìm hiểu bản chất của thực tại với một công cụ mới được hoàn thiện của mình gọi là “lí trí”, một khả năng của con người rồi đây sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho một quan niệm hoàn toàn mới về không gian và thời gian. Chủ nghĩa duy lý là một hệ thống đáng kinh ngạc bởi nó đã quét phăng đi tất cả những giải thích mang tính huyền thoại và ma thuật, và thay chúng bằng một tảng nam châm duy nhất, đó là logic. Tại sao cái hệ thống tư duy đặc biệt này lại nảy sinh ở Hi Lạp vào hai nghìn năm trăm năm trước đây, chứ không phải là ở một nơi nào khác và vào một lúc khác? Chúng ta cũng đáng bỏ công để suy đoán.

Những con người sống trên các hòn đảo vùng Hi Lạp ấy là những người tiếp nhận một ngôn ngữ Indo-Aryan phong phú và mạnh mẽ, từ phương bắc lan truyền xuống thông qua các cuộc xâm lăng và di cư. Họ đã trộn đúc cái kho từ vựng đa dạng và sung mãn ấy với một công nghệ tân tiến gọi là bảng chữ cái, là thứ mà họ học được từ các thương gia Phoenicia từ miền nam. Nhiều tộc người Semitic cũng đã dùng các bảng chữ cái trong một thời gian nào đó, nhưng chúng rất cồng kềnh do thiếu cái thành tố cốt lõi là các nguyên âm[1].

Sáng tạo giản dị của người Hi Lạp là các chữ cái tượng trưng cho các nguyên âm. Khi ghép với những con chữ phụ âm của người Phoenicia, chúng tạo nên một hệ thống thông tin viết, rất dễ dàng sử dụng, mà cơ sở của nó không hề thay đổi cho đến ngày hôm nay.

Mỗi khi có một phương tiện thông tin mới được đưa ra cho thế giới, thì một bước tiến khổng lồ lại xuất hiện trong lịch sử thành văn. Bảng chữ cái Hi Lạp không những chỉ mới mẻ, nó còn là một phương tiện cực kì có hiệu quả để xử lý thông tin, nó mang tính cách mạng trong thời của mình tương tự như công nghệ máy tính trong thời đại hiện nay. Hệ thống các con chữ của bảng chữ cái là “thân thiện với người sử dụng”, bởi vì thay cho hàng nghìn hình ảnh tạo nên hệ thống chữ tượng hình hoặc biểu ý, thì bây giờ chỉ có hai mươi tư kí hiệu. Khi được xâu chuỗi trên một đường nằm ngang theo một trật tự cụ thể, những kí hiệu này trở thành một thứ mã có thể giải được và làm cho khả năng ghi lại và truyền tải thông tin trở nên phổ thông và khá dễ dàng.

Ở một cấp độ khác, bảng chữ cái chính là hình thức nghệ thuật trừu tượng đầu tiên của nền văn minh. Khi hình dáng cụ thể của mỗi con chữ đã tách ra khỏi mối quan hệ với hình ảnh của cái vật mà nó có thể đã từng biểu đạt, thì tính chất trừu tượng của bảng chữ cái đã ngầm tăng cường năng lực tư duy trừu tượng cho những người sử dụng chúng, chữ tượng hình hoặc biểu ý về cơ bản là một bức tranh trong đó có thể chứa nhiều khái niệm chồng đặt lên nhau. Ngược lại, bảng chữ cái xâu chuỗi các khái niệm đó thành các từ trong một câu mà nghĩa của nó phụ thuộc vào trật tự tuyến tính. Việc gỡ các ý tưởng được kết bện trong một hình tượng biểu ý và chuyển chúng thành một mã tuyến tính đã tăng cường niềm tin rằng sự vật cái này tiếp theo cái kia, và bằng cách như vậy, bảng chữ cái đã ngầm áp đặt tính nhân quả vào quá trình tư duy của những người sử dụng nó.

Marshall McLuhan đã chỉ ra tầm quan trọng sống còn của một công nghệ truyền thông mới khi ông lập nên câu cách ngôn nổi tiếng của mình “Phương tiện thông tin chính là thông điệp”. Trong tác phẩm Thiên hà Gutenberg, ông cho rằng hàm lượng thông tin được trao đổi trong một phương tiện cụ thể nào đó như ngôn ngữ nói hoặc từ được viết theo các con chữ của bảng chữ cái, sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cái quy trình mà người ta sử dụng để truyền đi thông tin đó. Quy trình, hơn là chất lượng gốc của thông tin, xét cho cùng sẽ có ảnh hưởng lớn hơn đối với nghệ thuật, triết học, khoa học và tôn giáo của nền văn minh. Việc một số lớn người Hi Lạp cổ đại sử dụng thường xuyên bảng chữ cái trong suốt một thời gian dài đã làm mạnh thêm ba mặt của nhận thức: sự trừu tượng hóa, tính tuyến tính và tính liên tục. Ba ý niệm này đồng thời cũng là nền tảng của quan niệm mới về không gian, thời gian và ánh sáng sẽ xuất hiện ở nhiều thế kỉ sau, sau khi hệ chữ cái mới của người Hi Lạp được chấp nhận rộng rãi.

Không phải tình cờ mà ngành khoa học đầu tiên về không gian lại xuất hiện trong nền văn minh đã sáng tạo ra bảng chữ cái ưu hóa ấy. Nhà toán học Hi Lạp Euchid, người dạy học tại Bảo tàng Alexandria vào khoảng năm 300 trước CN (museum – bảo tàng – là loại trường học dành để tôn thờ các Muse – những nữ thần bảo trợ cho khoa học và nghệ thuật), đã luật hóa không gian thành một lĩnh vực của tri thức gọi là hình học. Người Ai Cập. Babilon, Hindu và nhiều dân tộc khác trước đó đã khám phá ra một số mảnh, miếng khác nhau của các chân lý hình học. Nhưng chính Euclid mới là người đã gắn kết tất cả các chứng minh đó lại với nhau và trong một hệ thống duy lý vĩ đại, ông đã đặt nền tảng cho cả một ngành khoa học mới. Euclid đã truyền tải tư duy trừu tượng thành các biểu đồ tạo nên một hệ thống chặt chẽ. Ông bắt đầu bằng cách định nghĩa các thuật ngữ của mình, rồi đưa ra các tiên đề mà theo ông, chúng đã hiển nhiên đến mức không cần phải chứng minh gì cả. Rồi từ đó ông phát biểu năm định đề của mình. Những định đề quen thuộc như các đường thẳng song song không bao giờ cắt nhau, hay tất cả các góc vuông đều bằng nhau – trong suốt hơn hai ngàn năm qua đã được coi là cái trục cốt lõi của chân lí.

Từ năm định đề cơ bản, Euclid tiếp tục suy ra các định lý và mệnh đề khác. Sự chứng tỏ tính chân lý cố hữu của hệ thống Euclid bắt nguồn từ thực tế là các định nghĩa và tiên đề của ông đều có thể dùng để chứng minh các định lí. Nhưng Euclid cũng nêu ra một số giả thiết khác, không được ông đề cập tới trong cuốn Các cơ sở của mình. Ví dụ, ông tổ chức không gian theo cách dường như các điểm của nó có thể kết nối với nhau bằng một mạng tưởng tượng những đường thẳng mà thực tế không tồn tại trong tự nhiên. Hình học là một hệ thống hoàn toàn dựa trên sự trừu tượng hóa của trí tuệ. May mắn thay, khi nó được đem áp lên hiện thực bên ngoài, thì tự nhiên đã ngoan ngoãn chứng thực cho sản phẩm tưởng tượng ấy của trí óc. Sử dụng khái niệm của Euclid về không gian, nhà triết học kiêm kĩ sư ở thế kỉ thứ ba trước CN Archimedes đã đưa ra một tiên đề hiển nhiên nói rằng khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm là một đường thẳng. Quy tắc này, không cần phải thật sự nói rõ ra hơn, đã hàm ý rằng không gian của Euclid là đồng đều, liên tục và thuần nhất. Không có các lỗ thủng, các chỗ lồi hay các chỗ bị uốn cong, và ở mọi nơi, không gian được coi là hoàn toàn như nhau. Nếu đường thẳng tình cờ hóa thành một cái thước kẻ và nếu chúng ta dùng trí tưởng tượng của mình, thì không gian của Euclid có thể cắt ra được thành từng nhát và đánh số thứ tự trên các cạnh của những nhát cắt ấy, khiến cho không gian Euclid có thể đo được.

Một giả thiết nữa ngụ ý trong không gian Euclid mà ông đã không nói rõ ra, rằng không gian là hoàn toàn trống rỗng. Vì không gian đối với Euclid là không có chất đặc, nên người ta có thể đặt các vật thể, các dạng, các hình vào trong đó và di chuyển chúng từ chỗ này sang chỗ kia mà không sợ ảnh hưởng đến không gian hay các vật khác. Không gian không thể tương tác với khối lượng hay các dạng bởi vì không gian thực chất chẳng có gì cả. Nó là một cái thùng chứa rỗng không mà người Hi Lạp có thể bố trí trong đó các vật thuộc thực tại của họ.

Những khái niệm đó của người Hi Lạp về không gian đã hoàn toàn chiến thắng đến mức Plato đã cho khắc ở phía trên cổng vào học viện của mình dòng chữ: “Người nào đã không được dạy dỗ về hình học, thì đừng bước vào đây”. Trước đó, Zeno, một nhà triết học tinh quái ở thế kỉ thứ năm trước CN, đã đưa ra một loạt nghịch lý để chứng tỏ một số điều không nhất quán trong các ý niệm của người Hi Lạp về không gian. (Một trong số đó là nghịch lý về cuộc chạy đua giữa Achilles và con rùa. Xuất phát trước, chú rùa đã thắng vì Achilles luôn luôn chạy được một nửa khoảng cách tới chú rùa. Achilles mỗi lúc một rút ngắn lại khoảng cách ấy, nhưng không bao giờ có thể vượt qua nổi chú rùa chậm chạp hơn, vì khoảng cách còn lại ấy dù có liên tục thu nhỏ lại mãi nhưng không bao giờ bị biến mất). Các nghịch lý của Zeno đã không được xem xét nghiêm túc hay giải quyết thấu đáo. Một trăm năm sau, Aristotle đã độc đoán gạt phắt không đếm xỉa đến Zeno, coi Zeno là một kẻ lập dị. Ông buộc cho Zeno cái tội lỗi xấu xa nhất của triết học Hi Lạp – tội ngụy biện. Tuy nhiên, đối với chúng ta ngày nay, “ngụy biện” là một từ khinh rẻ mà các nhà triết học gán cho những lập luận không thể giải thích nổi trong nội bộ một hệ thống.

Nếu như tính tuyến tính đã đặt cơ sở cho một quan niệm mới về không gian, thì nó cũng có một ảnh hưởng sâu xa đến khái niệm về thời gian. Trong tất cả các nền văn minh của thời cổ đại ấy, thời gian là tuần hoàn. Toàn bộ những bằng chứng mà nhà quan sát có được đều nói lên sự hồi sinh và tái lặp. Các đợt nước dâng rồi rút của sông Nile, mùa trong năm nối tiếp nhau quay lại, tính tuần hoàn trong sự xuất hiện của các thiên thể trên bầu trời – tất cả những cái đó đã gia cường cho niềm tin rằng thời gian mang tính tuần hoàn. Tuy nhiên, thật bi thảm là có một sự kiện không lặp lại. Cái chết của mỗi cá nhân và tính không thể đảo ngược của nó đã khắc nghiệt chỉ ra hướng thẳng tắp, lạnh lùng vô cảm của thời gian. Mặc dù người Ai Cập và Hebrew đã bắt đầu nói đến khái niệm về thời gian tuyến tính và không lặp lại, nhưng điều đó mới chỉ tồn tại trong một bối cảnh tôn giáo. Cho đến thời của người Hi Lạp, đường thời gian thấy được của đám phàm trần vẫn còn vướng mắc lẫn lộn với đường thời gian ngoằn ngoèo uốn lượn hơn của các vị thần. Chính vì thế, đã không thể xuất hiện được ý niệm về một thứ thời gian trừu tượng, liên tục, tuyến tính vô cùng cần thiết cho tư duy lý tính. Người Hi Lạp bắt đầu thực hiện việc đập cho cái cục cong queo vẹo vọ này thành một đường thẳng tắp như đường tên bay. Và người đã làm những gì với thời gian, tương tự như Euclid đã làm với không gian, chính là Aristotle.

Giống như một người thợ trong một xưởng đúc, Aristotle đã nắn thẳng lại cái hình dạng uốn lượn cong tròn của thời gian. Nhưng để làm được thế, ông trước tiên đã phải xóa bỏ sự thiêng liêng của ba người con gái thần Tất Yếu. Ba vị nữ thần Số Mệnh ấy là Lachesis – người bảo vệ những gì đã qua, Clotho – người chở che cho những gì tồn tại và Atropos – người trông coi những gì sẽ đến. Bằng việc loại trừ khả năng thời gian trong huyền thoại có thể can dự vào thời gian hằng ngày, Aristotle đã chuyển hóa ba nữ thần Số Mệnh thành ba khái niệm quá khứ, hiện tại và tương lai. Một khi ông, theo một nghĩa nào đó, đã tạo ra được thời gian tuyến tính, thì các quy tắc của tư duy lý tính đã có thể phát triển thành một kĩ thuật giải quyết vấn đề rất hữu hiệu. Với vũ khí là không gian và thời gian trừu tượng, tuyến tính, liên tục, Aristotle tiếp tục thiết lập nên các quy tắc của logic học, hoàn chỉnh kiểu tư duy đặc biệt mà các nhà triết học Hi Lạp trước ông đã sử dụng thành một hệ thống được chuẩn hóa.

Đơn vị cơ bản của logic học là phép tam đoạn luận, dựa trên cái mệnh đề “nếu-thì”, “Nếu-thì” đã trở thành công cụ giản dị mà Aristotle tuyên bố rằng đó là tất cả những gì cần thiết để khám phá ra chân lí, không phải cậy đến các lời sấm truyền, các vật hiến tế hay các nhà tiên tri. Mặc dù bản thân logic không có tính thời gian, nhưng quá trình Suy luận logic lại phụ thuộc rất lớn vào thời gian. Nó diễn ra hết bước này tiếp đến bước khác.

Các tác phẩm của Aristotle đã toát lên rằng chính bản thân ông cũng không nhận ra một cách đầy đủ là việc ông lập nên các quy tắc của logic học lại tạo ra một số kết luận tất yếu về thời gian. Bản thân Aristotle đã tin rằng thời gian có tính tái hiện, các vòng tuần hoàn của nó mà ông gọi là các kỉ nguyên cách nhau xa đến mức có thể bỏ qua không xét đến những kỉ nguyên trước đấy, vì chúng vượt ra ngoài khuôn khổ thời gian tuyến tính mà ông vừa sáng tạo ra. Cũng không hiếm trường hợp người có tầm nhìn sâu xa thông tuệ như Aristotle lại không hiểu thấu hết ý nghĩa viễn kiến của chính mình, Galileo, Newton và Einstein cũng đã có những niềm tin đối nghịch với những khám phá của chính các ông. Tuy nhiên, quyết tâm lý giải vấn đề thời gian của Aristotle thật là phi thường; bởi người thầy thông thái của ông là Plato đã gạt đi không chấp nhận toàn bộ khái niệm thời gian, coi nó không gì khác hơn là một ảo ảnh quấy rầy cái lý tưởng bất động. Plato gọi thời gian là “hình ảnh chuyển động của cái vĩnh cửu bất biến này”.

Chuỗi đã trở nên đặc tính chủ chốt của thời gian và các khoảng thời gian nối theo nhau trong một dòng chảy liên tục, không quay trở lại. Những ý niệm mới mẻ của người Hi Lạp về không gian cũng phụ thuộc vào trật tự và tính tuyến tính, tương tự như những lĩnh vực khác trong nền văn minh của họ. Trong cuốn Sự ra đời và tái sinh của không gian hình ảnh, John White đã chỉ ra nét đặc thù lạ thường nhất của cả nghệ thuật hư cấu lẫn tường thuật Hi Lạp: “Tất cả các hình dạng đều nằm trên cùng một mặt phẳng. Tất cả chuyển động đều theo một hướng”. Từ các cột đền đến những bức họa trên bình sứ, cái quy chuẩn tuyến tính này hiếm khi bị vi phạm.

Khi thời gian đã được giằng ra khỏi các móng vuốt của huyền thoại, thì người Hi Lạp bỗng nhận ra rằng lịch sử là điều có thể. Nếu thời gian thực là tuyến tính, thì có thể lập biên niên về các sự kiện theo một trật tự nối tiếp nhau. Và thế là Herodotus ở thế kỉ thứ năm trước CN đã trở thành sử gia đầu tiên của nền văn minh nhân loại. Cái quan niệm cho rằng một con người đang sống ở hiện tại có thể viết nên một bảng liệt kê chính xác những sự kiện của quá khứ xa xôi, là một ý tưởng vô cùng mới mẻ. Nó chỉ có thể xảy ra trong một nền văn minh theo thời gian tuyến tính. Việc người Hi Lạp công nhận tính độc nhất tuyệt đối của các sự kiện lịch sử cũng chính là một trong những sự kiện độc nhất của lịch sử.

Không gian Euclid và thời gian Aristotle đã làm nên cơ sở cho một mẫu hình bền vững đến đáng nể. Cái thế giới quan này đã tồn tại không hề thay đổi kể từ khi lần đầu tiên nó được nêu ra gần hai ngàn năm trăm năm trước đây. Hầu như không có ngoại lệ, mọi con người trong xã hội phương Tây đều sử dụng cái hệ thống lâu đời này. Cuốn Các cơ sở của Euclid có lẽ là cuốn sách thứ hai được đọc rộng rãi nhất trong lịch sử thế giới. Con người ta hầu như không thể nào lớn lên nổi nếu không được khắc ghi những tư tưởng của Euclid vào trong tâm trí ở lứa tuổi rất sớm. Tương tự như vậy, kiến thức về logic học của Aristotle được mặc định là một yêu cầu tiên quyết đối với bất kì ai có một vị trí chuyên môn, kĩ thuật hay văn chương trong một xã hội đã phát triển. Phi lí đến sâu xa được coi là mất trí.

Vì mọi người chúng ta đều được học về hệ thống tư duy này từ rất sớm, nó lại vận hành tốt đến nỗi rất khó có thể nhìn ra những khiếm khuyết của nó. Nhưng nếu chân lý là mối tương hợp giữa cái trình hiện và thực tại, thì có thể thấy được một số điểm không nhất quán rành rành trong hệ thống này. Trong tự nhiên, các đường thẳng hiếm hoi đến mức kinh ngạc. Bạn thử đi dạo trong rừng mà xem, rõ ràng là hầu như chẳng có cái gì là thẳng như thước kẻ cả. Thay vào đó, tất cả các hình dạng nảy sinh một cách tự nhiên đều cong và uốn lượn. Các tảng đá, các bụi cây, các ngọn núi, các dòng sông, đường nước chảy, cành cây, lá cây – tất cả đều theo một đường viền cấu trúc không hề chứa lấy một đường thẳng hoàn hảo nào. Chỉ có các thân cây và cái dáng thẳng của con người đứng trên mặt đất là đưa ra được hình ảnh thường nhìn thấy về đường thẳng đứng, na ná như một sợi dây dọi. Bất chấp những bằng chứng trực tiếp như vậy từ các giác quan, chúng ta vẫn tiếp tục liên kết mọi vật với các đường thẳng. Họa sĩ trường phái Lãng mạn thế kỉ mười chín Eugène Delacroix có lần đã phân vân: “Cũng đáng nên điều tra xem liệu có phải các đường thẳng chỉ tồn tại trong trí óc chúng ta hay không”.

Việc phương Tây khư khư ảo tưởng rằng đường kết nối giữa các vật thể trong không gian và các sự kiện trong thời gian là một đường thẳng cũng tương tự như một niềm tin trong một tín điều tôn giáo. Giống hệt như các tôn giáo chủ yếu trên thế giới bắt đầu bằng giả định rằng bên dưới dòng chảy cuồn cuộn của các cảm quan của chúng ta là một nguyên lý thống nhất, khoa học cũng tìm thấy trong hệ thống tuyến tính của Euclid cái hệ quả tất yếu của nó. Trong khi có vô vàn các đường cong, thì xét cho cùng, chỉ có một đường thẳng. Sự hiển nhiên của điều thiên khải này đã được tích hợp trong tín điều sùng kính con số của Pythagoras. Pythagoras, bà đỡ cho khoa học ra đời từ người mẹ đẻ của nó là tôn giáo, đã tin rằng chỉ có thông qua các con số và các hình hình học thuần tuý, nhân loại mới có thể nắm bắt được bản chất của vũ trụ. Trong cuốn sách nổi tiếng của mình về quang học, Euclid bắt đầu bằng cách thông báo cho người đọc biết rằng các đường ngắm của chúng ta, hay các tia thị giác, chính là đường thẳng.

Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn đúng nếu nói rằng thiên nhiên không chứa các đường thẳng hoàn hảo rõ ràng nào. Hầu hết chúng ta đều thấy có một: chỗ tiếp giáp không vướng bận gì giữa biển và trời – tức là đường chân trời khi được nhìn thấy trên mặt nước. Chân trời là đường định hướng trung tâm trong những trải nghiệm của chúng ta. Phi công và thủy thủ bị lạc trong sương mù không nhìn thấy đường chân trời thường báo cáo về sự mất phương hướng rất lạ lùng liên quan đến trên, dưới, trước, sau, trái, phải. Cái đường thẳng hình thành một cách tự nhiên này quan trọng đến mức tôi đồ rằng việc nó luôn hiển hiện đã có một tác động lớn lao lên các nền văn minh ven biển. Có lẽ lý do mà bảng chữ cái theo trật tự thẳng, logic học tuyến tính và không gian tuyến tính chủ yếu được cổ suý bởi các đế quốc hàng hải thời Hi Lạp cổ đại, Đế chế La Mã, Venice Phục hưng và nước Anh của Nữ hoàng Elizabeth là bởi vì cư dân của những đế quốc đó đã liên tục nhìn thấy bằng mắt thường cái đường thẳng nhất ấy của tự nhiên. Đường hằn sắc nét này đã không có trong trải nghiệm hằng ngày của những nền văn minh nằm sâu trong đất liền như Ai Cập, Tiểu Á hay Trung Hoa cổ đại. Có lẽ sự thiếu vắng của nó là nguyên nhân làm cho các đế quốc này không phát triển được hệ thống bảng chữ cái được sử dụng rộng rãi, hay tổ chức được không gian và thời gian theo cách tuyến tính.

Sau khi đã phát minh ra một phương cách mới để khái niệm hóa không gian và thời gian, các nhà triết học Hi Lạp đã cố tìm hiểu bản chất của ánh sáng. Người Hi Lạp tiền cổ điển đã không phân biệt được giữa “mắt” và “ánh sáng”: một trong hai từ đều có thể dùng để miêu tả một cái gì đó được yêu thương hay ngưỡng mộ. Mắt dường như phát ra ánh sáng, và các nguồn sáng lại xuất hiện dưới dạng như những con mắt lớn. Mặt trời có thể được gọi là một con mắt, và đôi mắt của con người ta có thể được nói đến như một thứ ánh sáng. Người Hi Lạp đời sau mới bắt đầu tách biệt ánh sáng với tư cách là phương tiện truyền tải thông tin với cái cơ quan cảm thụ của con người dùng để tiếp nhận nó. Aristotle gọi mắt là “cái cổng của trí tuệ”, sau khi Alcmaeon vào thế kỉ thứ sáu trước CN phát hiện ra rằng dây thần kinh thị giác nối mắt với bộ não. Mở đầu tác phẩm Siêu hình họccủa mình, Aristotle đã nhận xét về việc chúng ta đánh giá thị giác cao hơn tất cả các cơ quan khác như thế nào: “Nguyên nhân là cái giác quan này, hơn tất cả các giác quan khác, đã làm cho chúng ta biết và phát lộ cho chúng ta thấy các vật khác nhau thế nào”. Từ imagination (“tưởng tượng”) trong tiếng Anh của chúng ta đã phái sinh từ từ phantasia của tiếng Hi Lạp, chính từ này lại có nguồn gốc từ từ phatos (“ánh sáng”) bởi vì không thể nhìn thấy nếu không có ánh sáng.

Tuy bị hạn chế bởi việc thiếu các dụng cụ khoa học khi bắt Lay vào nghiên cứu, nhưng người Hi Lạp đã bắt đầu hiểu ra rằng ánh sáng phải có các thuộc tính gì đó. Bởi vì không gian là trống rỗng, nên ánh sáng phải là một cái gì đó để đi qua được cái trống rỗng này. Plato cho rằng ánh sáng phát ra từ trong trí não của chúng ta. Theo lý thuyết của Plato, các tia sáng phát ra từ mắt chúng ta và bao bọc lấy những vật mà chúng ta có thể nhìn thấy. Aristotle thì phỏng đoán ngược hẳn lại. Ông nghĩ rằng ánh sáng phát xuất từ mặt trời và sau khi đập vào các vật thể trong thế giới bên ngoài, nó bật ngược trở lại vào trong mắt của chúng ta. Cuộc tranh luận mà hai ông khơi ra vẫn đang kéo dài cho đến tận hôm nay.

Cả hai quan niệm của Plato và Aristotle về ánh sáng đều có ngầm ý cho rằng ánh sáng là một “vật”. Hai ông đã giả định rằng ánh sáng di chuyển từ nơi này đến nơi khác trong không gian, mặc dù hai ông không chắc ánh sáng đã thực hiện cái hành động xuất sắc đầy bí ẩn này trong một khoảng thời gian cho phép nào đó, hay sự truyền của nó là tức thời. Những cú đâm mò trong bóng tối của người Hi Lạp về bản chất của ánh sáng và các thành tựu đầy tự hào của họ liên quan đến việc định nghĩa không gian và thời gian lại là sự khởi đầu cho một quan niệm sai lầm kéo dài đến hai nghìn năm trăm năm, cho rằng thời gian và không gian là những kết cấu tuyệt đối của thực tại, còn ánh sáng chỉ là một thứ nảy qua nảy lại giữa các bức tường của cái khung không gian và thời gian đó.

Rất lâu trước hình thức luận chặt chẽ của Euclid và Aristotle, các nhà kiến trúc và họa sĩ Hi Lạp đã biết đến những lợi thế của một không gian thống nhất và đo lường được. Các họa sĩ Hi Lạp ngày càng đặt những hình khối của họ theo định hướng tuyến tính, phụ thuộc vào đường chân trời; còn các kiến trúc sư Hi Lạp đã sử dụng, như một lý tưởng thẩm mĩ mới, những nguyên lý mà về sau sẽ được Euclid giải thích tỉ mỉ, để tính toán những hiệu quả thị giác của các công trình xây dựng của họ. Những tính toán tinh tế ấy thậm chí bao gồm cả việc xây các cột đền ở phía ngoài dày hơn cột phía trong để không làm người nhìn cảm thấy chúng bị “ăn mất” dần về mặt quang học bởi ánh sáng xung quanh.

Một thế kỉ trước khi Euclid phổ biến các tỉ lệ của tam giác cân, các nhà điêu khắc Hi Lạp đã dự đoán được một cách chính xác những tỉ lệ giữa khuôn mặt và cơ thể con người. Nhà điêu khắc thế kỉ thứ năm trước CN Polyctus đã viết một cuốn sách có tên Kanon (Quy tắc), định rõ những quan hệ đo được giữa các bộ phận khác nhau của cơ thể người. Ông đề nghị lấy các giá trị này làm thành cơ sở cho một quan niệm mĩ học toàn vẹn. Rồi ông tạc bức tượng Doryphoros (Người mang giáo) để minh họa cho các nguyên tắc này.

Một thế kỉ trước khi Plato tìm kiếm những hình dạng lý tưởng nằm ẩn khuất trong tự nhiên, các nghệ sĩ đã sáng tạo nên những hình dạng mà ngày nay chúng ta gọi là “cổ điển”. Trong nỗ lực vươn tới sự hoàn thiện, các nghệ sĩ Hi Lạp đã đạt được đến cốt lõi của cái lý tưởng của Plato. Gốc của từ rational (“hợp lí”) – là từ dung hợp cho các thuật ngữ thuộc nó như “lí trí”, “logic”, “tính nhân quả” – có thể truy nguyên đến tận từ ratio của tiếng Latin, có nghĩa là “tỉ lệ”. Cả nghệ thuật và triết học tự nhiên đều tham gia vào một công cuộc tìm kiếm để vén những bức màn che phủ bên ngoài, nhằm phát hiện ra những dạng thức tỉ lệ lý tưởng nằm dưới chúng.

Trong kiến trúc cổ điển, hình chữ nhật có tỉ lệ lý tưởng là một hình có tỉ lệ giữa các cạnh của nó là năm và tám. Các đền thờ Hi Lạp đều được xây dựng theo công thức này, và cái hình mẫu của sự hoàn thiện này được biết đến dưới cái tên là “hình chữ nhật vàng”. Nó có nguồn gốc từ lý tưởng thẩm mĩ nghệ thuật của người Hi Lạp về một khuôn mặt người có vẻ đẹp hoàn thiện. Khi chia khuôn mặt con người ra làm tám phần, thì các nét nhân diện tính từ dưới lông mày chiếm năm phần tám, còn từ mép lông mày lên đỉnh đầu chiếm ba phần tám.

Ý niệm trên của người Hi Lạp tiếp tục ảnh hưởng đến các nghệ sĩ những đời sau. Marcus Vitruvius, nhà kiến trúc và nhà văn La Mã thế kỉ thứ nhất trước CN, khi mở đầu tác phẩm Kiến trúc của mình đã khuyến nghị rằng tất cả các đền thờ, để tạo nên vẻ hoành tráng, cần phải được xây dựng dựa trên sự tương đồng với tỉ lệ của một cơ thể con người cân đối, trong đó các bộ phận cơ thể hài hòa với nhau đến mức hoàn thiện. Socrates, Plato và Aristotle đều quan niệm cốt lõi của cái đẹp là trật tự, cân đối và giới hạn. Bất chấp tất cả những “quy tắc” đó, nghệ thuật Hi Lạp là nền nghệ thuật “tự do” đầu tiên – tự do theo nghĩa những mục đích của nó mang tính thẩm mĩ nhiều hơn là tôn giáo hay chính trị.

Tương tự như vậy, các cấu trúc không gian và thời gian của người Hi Lạp đã có ảnh hưởng tới mọi mặt của nền văn hóa Hi Lạp. Và bởi vì chúng ta là con cháu của những truyền thống cổ điển đó, nên những khởi đầu cổ xưa ấy đã chất nặng hậu quả lên chúng ta. Bên cạnh đó, như chúng ta sẽ thấy, còn một di sản nữa của hệ thống tư duy Hi Lạp mà sẽ phải mất nhiều thế kỉ mới gạt bỏ được – đó là ý niệm về tính nhị nguyên của thực tại. Democritus vào thế kỉ thức năm trước CN đã tuyên bố rằng toàn bộ thế giới được tạo lập nên chỉ bởi hai thành tố: các nguyên tử và chân không. Sự quy giản từ con số vô vàn các hình thức xuống còn hai là đỉnh điểm của tư duy nhị nguyên luận. Đạo Cơ đốc đã công nhận thuyết nhị nguyên khi phân định rạch ròi giữa tốt và xấu, giữa thiên đường và địa ngục. Nhị nguyên luận cũng hiển hiện trong triết học của Descartes về “cái ở đây / cái ngoài kia”, cũng như trong việc khoa học phân chia thế giới ra làm hai phần – quan sát và bị quan sát. Trong khi quan niệm về tính nhị nguyên này là một nấc thang sống còn trong toàn bộ cái thang tư tưởng đưa chúng ta đạt được tới một mặt bằng tiếp sau cao hơn, thì trong một thời gian rất dài, chính nó lại kìm bước chân ta leo lên cao hơn nữa.

Những người La Mã chiến thắng sau đấy đã tiếp nhận thế giới quan Hi Lạp và xây dựng nền văn hóa của mình theo kiểu mẫu đó. Thế giới cổ điển kéo dài khoảng tám trăm năm (từ năm 400 trước CN đến năm 400 sau CN). Là một dân tộc thực dụng, người La Mã chấp nhận các quy ước của người Hi Lạp liên quan đến không gian, thời gian và ánh sáng cùng với hầu hết các phương diện khác của nền văn hóa Hi Lạp. Mặc dù có thời gian lâu dài và phạm vi rộng lớn như vậy, nhưng điều đáng ngạc nhiên của đế chế Đại La Mã là hầu như rất ít tư tưởng sáng tạo về các quan niệm ấy đã xảy ra. Có lẽ sự thiếu vắng tính độc đáo và việc tôn sùng đến mức nô lệ các lý tưởng cổ điển của nền văn hóa Hi Lạp trước đó chính là nguyên nhân làm cho cái hệ thống này bị suy hao dần sức sống. Nhưng dù suy hao gì đi chăng nữa, nó đã thực sự tồn tại trong một thời gian, Rồi đạo Cơ đốc, bắt đầu đi lên từ những năm 400 sau CN, đã che mờ cái hệ thống duy lý mà Euclid, Plato và Aristotle từng nghĩ ra. Các quan niệm Cơ đốc giáo về những khái niệm không gian, thời gian và ánh sáng, về cơ bản, đã xung khắc với những khái niệm của Hi Lạp cổ điển.

Chú thích

  1. Bước lên Đối với sự phát triển sau đó của nền văn minh phương Tây, sức nặng đạo đức của Mười lời răn mà Moses nhận được từ Chúa ở trên đỉnh Sinai cũng có tầm quan trọng tương tự, vì rất lạ là những Lời răn ấy đã không được viết bằng thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của Moses là chữ tượng hình, mà được viết dưới dạng các chữ cái.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
  • Nguồn bài đăng: vi.kipkis.com
Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *