Kiến trúc - Hội hoạThưởng thức nghệ thuật

Nghệ thuật và Vật lý – Chương 1: Ảo ảnh/Hiện thực

Mục đích của nghệ thuật là phơi trần những câu hỏi đã bị các câu trả lời che giấu đi mất.

James Baldwin

Vật lý là một hình thức thấu hiểu và như thế, nó là một hình thức nghệ thuật.

David Bohrn

 

Nghệ thuật và vật lý là một cặp ghép thật lạ lùng. Trong một loạt các lĩnh vực của con người, liệu còn có hai cái nào xa biệt với nhau hơn thế không? Người nghệ sĩ sử dụng hình tượng và ẩn dụ; còn nhà vật lý thì dùng con số và phương trình. Nghệ thuật ôm trùm một lãnh địa tưởng tượng của các đặc trưng mĩ học, còn vật lý tồn tại trong một thế giới của các quan hệ toán học được khoanh định một cách rạch ròi giữa những thuộc tính có thể lượng hóa được. Từ trước đến giờ, nghệ thuật đã sáng tạo nên các ảo ảnh nhằm khơi gợi cảm xúc, còn vật lý là một ngành khoa học chính xác tạo nên tính có lí. Thậm chí những luận đề khuôn sáo của hai lĩnh vực này cũng đối nghịch nhau như hai cực trái đất. Trong trường đại học, lớp sinh viên nghệ thuật tiên phong thời thượng thường không giao du với đám đồng trang lứa phàm phu hơn ở khoa vật lí. Nếu tình cờ đem đặt cạnh nhau thì thấy hai lĩnh vực này dường như chả có mấy gì chung: nghệ thuật ít khi, nếu như có, được đả động đến trong bất kì một cuốn sách giáo khoa tiêu chuẩn nào về vật lí, còn các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cũng hiếm khi diễn giải tác phẩm của một nghệ sĩ dưới ánh sáng của khuôn khổ khái niệm vật lí.

Tuy nhiên, bất chấp những khác biệt có vẻ như không thể dung hòa nổi ấy, có một đặc tính cơ bản đã liên kết vững bền hai lĩnh vực này. Cả nghệ thuật đột phá lẫn vật lý có tầm dự báo xa đều là những cuộc khám phá vào bản chất của hiện thực. Roy Lichtenstein, nghệ sĩ trường phái bình dân những năm 60 của thế kỉ hai mươi, đã tuyên bố: “Nhận thức có tổ chức chính là cái mà nghệ thuật muốn nói tới”. Issac Newton có thể cũng đã phát biểu hệt như thế về vật lí, bởi vì chính bản thân ông cũng quan tâm đến những nhận thức có tổ chức. Tuy các phương pháp của hai lĩnh vực khác nhau một cách cơ bản, nhưng cả nghệ sĩ lẫn nhà vật lý đều cùng chung một niềm khao khát muốn khám phá những cách thức mà các mảnh đan xen lẫn nhau của hiện thực đã ghép lại với nhau. Đây chính là nền tảng chung mà trên đó vật lý và nghệ thuật đã gặp nhau.

Paul Gauguin có lần đã nói: “Chỉ có hai loại nghệ sĩ – những nhà cách mạng và những kẻ sao chép”. Nghệ thuật bàn luận trong cuốn sách này chủ yếu sẽ là nghệ thuật được các nhà cách mạng sáng tạo ra, bởi vì tác phẩm của những nghệ sĩ đó báo hiệu khởi đầu một sự thay đổi lớn trong thế giới quan của cả một nền văn minh. Tương tự như vậy, mặc dù sự phát triển của vật lý luôn luôn phụ thuộc vào các cống hiến tích tụ từ nhiều con người làm việc tận tụy và xuất chúng, nhưng trong một số dịp hiếm hoi của lịch sử, đã xảy ra việc cá nhân một nhà vật lý nào đó đã có một cái nhìn thấu đáo một vấn đề quan trọng tới mức khiến cho quan niệm của toàn bộ xã hội ở thời đại đó về hiện thực bị xem xét lại. Thi sĩ Rainer Maria Rilke đã gọi cái tầm nhìn siêu việt ấy là một cơn “bùng cháy của minh thị”, cho phép một số nghệ sĩ và nhà vật lý nhìn thấy được cái mà không một ai trước họ đã từng nghĩ là có. Họ – những người nghệ sĩ cách mạng và nhà vật lý có tầm nhìn sâu xa – sẽ được ghép cặp trong những trang sách tiếp sau đây.

Định nghĩa của Émile Zola về nghệ thuật – là “Tự nhiên được nhìn qua một tâm trạng” – cũng gợi đến vật lí, vì tương tự như nghệ thuật, vật lý cũng có liên hệ với tự nhiên. Trong tiếng Hi Lạp, từ physis (vật lí) có nghĩa là “tự nhiên”. Lấy cái nền chung ấy làm điểm xuất phát, tôi sẽ mô tả các mối liên kết cũng như những sự khác biệt giữa hai con đường có vẻ như khác hẳn nhau này mà theo đó hai hệ thống nhận thức của chúng ta về tự nhiên được tổ chức nên.

Cũng như bất kì một nhà khoa học nào khác, nhà vật lý có nhiệm vụ phá vỡ “tự nhiên” ra thành các thành tố để phân tích mối quan hệ của chúng với nhau. Quá trình này chủ yếu là một quá trình quy giản. Ngược lại, người nghệ sĩ thường đem các đặc trưng khác biệt của thực tại đặt cạnh nhau rồi tổng hợp chúng, để đến lúc hoàn thành, tổng thể công trình sẽ lớn hơn tổng các thành tố ấy. Có một sự giao thoa đáng kể trong những kĩ thuật mà nhà vật lý và người nghệ sĩ sử dụng. Nhà văn Vladimir Nabokov đã viết: “Không có khoa học nào mà không có sự tưởng tượng, cũng như không có nghệ thuật nào mà không có sự thật”.

Trong phạm vi của chủ đề khoa học, ở cuốn sách này, tôi sẽ tập trung vào vật lý theo quá trình mà nó đã phát triển mấy trăm năm trở lại đây. Tuy nhiên, xin độc giả lưu ý rằng nhà vật lý ngày nay đang khoác một chiếc áo choàng được truyền từ đời này sang đời khác trong lịch sử nhân loại. Nhà vật lý ngày nay là đại diện đương đại của một truyền thống quang vinh, mà chúng ta có thể khám phá ra nguồn gốc sâu xa của nó thông qua những nhà khoa học đầu tiên – các nhà thần học đạo Cơ đốc, các nhà triết học tự nhiên, các tu sĩ đa thần giáo và các pháp sư thời đồ đá cũ, những người xuất sắc nhất trong số họ đã đóng góp từng mảnh một trong cái trò chơi chắp hình đến bất tận của tự nhiên. Có lẽ, nhà vật lý đầu tiên chính là cái người đã khám phá ra cách làm thế nào để tạo nên một ngọn lửa.

Tôi đã chọn riêng ra ngành vật lí, bởi vì trong thế kỉ này, tất cả các ngành khoa học “cứng” khác đều nhận thấy rằng chúng đều được neo chung vào cái tảng đá này. Hóa học khởi đầu bằng những cố gắng nhằm xác định và phân lập các nguyên tố, và đi đến chỗ hòa nhập vào các định luật chi phối các hiện tượng ở cấp độ nguyên tử. Thiên văn học bắt đầu từ niềm ngạc nhiên thích thú trước chuyển động của các thiên thể và tiến đến việc tìm hiểu cấu trúc của hệ mặt trời. Ngày ngay, khi nghiên cứu các thiên hà, nhà vật lý thiên văn nói về các định luật chi phối các lực và vật chất. Khởi đầu từ phép phân loại các giống loài ở thời Aristotle, sinh học đã phát triển thành sự nghiên cứu về mối tương tác vật lý của các nguyên tử trong sinh học phân tử. Vật lí, trước kia chỉ là một ngành trong các ngành khoa học, đến thế kỉ này đã được trao vương miện, trở thành ông Vua của các ngành Khoa học.

Trong trường hợp của các ngành nghệ thuật thị giác, bên cạnh việc tô điểm, bắt chước, diễn giải hiện thực, một số ít nghệ sĩ đã sáng tạo ra một loại ngôn ngữ kí hiệu / biểu tượng biểu trưng cho những thứ mà chưa có từ ngữ để gọi chúng. Giống như Sigmund Freud viết trong tác phẩm Văn minh và những sự bất bình của nó đã ví sự tiến bộ của toàn thể những con người trong một nền văn minh như sự phát triển của một đời người, tôi cho rằng những cách tân cơ bản của nghệ thuật là hiện thân của các giai đoạn tiền ngôn ngữ của các khái niệm mới mà cuối cùng chúng sẽ làm thay đổi cả một nền văn minh. Dù là một đứa trẻ hay một xã hội đang mấp mé bên bờ của sự thay đổi, thì việc “tiêu hóa” các hình ảnh không quen thuộc sẽ là khởi đầu cho một cách tư duy mới về hiện thực. Sự đối chiếu này sẽ dẫn đến việc hình thành các ý tưởng trừu tượng, những cái mà sau đó mới làm nảy sinh ra ngôn ngữ mô tả.

Ví dụ, hãy quan sát một đứa trẻ khi nó đang cố gắng làm chủ môi trường quanh nó. Rất lâu trước khi khả năng nói / lời nói hình thành, đứa trẻ đã thiết lập được một mối liên hệ giữa cái bình sữa và cảm giác thỏa mãn. Dần dà nó tích tụ được một loạt hình ảnh khác nhau của cái bình. Đây là một chiến công đáng kinh ngạc, nếu xét đến việc cái bình được nhìn theo các góc khác nhau sẽ thay đổi hẳn hình dạng đi: từ một khối trụ chuyển sang hình bầu dục rồi sang vòng tròn. Tổng hợp các hình ảnh ấy lại, các cơ quan nhận thức đang phát triển của đứa bé sẽ tạo ra một hình ảnh trừu tượng hàm chứa ý niệm về toàn bộ nhóm các vật mà từ đó đứa bé có thể nhận ra đó là cái bình sữa. Bước trừu tượng hóa này cho phép em bé hiểu được ý niệm “cái bình”. Do vẫn còn chưa có ngôn ngữ, đứa bé giờ đây có thể phát ra tín hiệu ham muốn bằng cách chỉ tay.

Rồi vào một thời điểm nhất định, trong khu vực của bộ não gọi là vùng Broca, các liên hệ giữa các khớp thần kinh đạt đến con số tới hạn, kích hoạt cái công tắc làm bừng sáng cái sức mạnh thần kì của ngôn ngữ. Cái nhà máy chế tạo ngôn ngữ này, xình xịch chạy lan mãi tới xa, tạo ra các âm thanh thay thế, thậm chí che mờ đi những hình ảnh ban đầu. Ngay sau khi đứa bé liên kết được hình ảnh của cái bình với từ “bình”, thì từ này bắt đầu xóa nhòa hình ảnh cái bình, đến mức mà khi trở thành người lớn, chúng ta hầu như không nhận ra rằng khi chúng ta tiến hành tư duy trừu tượng, chúng ta đã không còn nghĩ ngợi theo các hình ảnh nữa. Các khái niệm như “công lí”, “tự do”, “kinh tế học” có thể được lật đi lật lại trong tâm trí chúng ta mà không cần phải viện đến hình ảnh. Mặc dù không bao giờ có quyết định thắng thua dứt khoát giữa từ ngữ và hình ảnh, nhưng con người chúng ta là loài phụ thuộc vào sự trừu tượng hóa của ngôn ngữ, và chủ yếu, từ ngữ cuối cùng luôn vượt lên trên hình ảnh.

Khi ôn lại quá khứ, lục lọi trong kí ức, hồi tưởng, suy ngẫm và hình dung, chúng ta nói chung đều dùng đến hình ảnh. Nhưng để thực hiện cái chức năng cao nhất của bộ não là tư duy trừu tượng, chúng ta đã từ bỏ việc sử dụng hình ảnh và đủ sức làm được mà không phải nhờ cậy đến chúng. Chúng ta đã gọi một cách rất chính xác kiểu tư duy ấy là “trừu tượng”. Đây chính là vương quyền và cũng là sự chuyên chế của ngôn ngữ. Việc gán một cái tên cho một cái gì đó chính là khởi đầu của sự kiểm soát đối với nó. Sau khi Chúa Trời tạo ra Adam, công việc đầu tiên mà Người sai Adam thực hiện là gọi tên tất cả các loài vật. Chúa cho Adam biết rằng làm xong được việc lớn ấy, Adam có thể thống trị tất cả các loài cầm thú. Hãy lưu ý rằng Chúa Trời đã không dạy Adam một cái gì thực dụng như nhóm lên một ngọn lửa hay chuốt nên một cây lao. Thay vào đó, Chúa dạy Adam Cách gọi tên. Từ ngữ, hơn là sức mạnh hay tốc độ, đã trở thành vũ khí mà loài người sử dụng để chinh phục tự nhiên.

Do việc từ ngữ làm xói mòn đi hình ảnh đã xảy ra tại một thời kì sớm đến thế trong cuộc đời con người, nên chúng ta đâm ra quên mất rằng để học được một cái gì đó đặc biệt mới lạ, chúng ta trước hết cần phải hình dung ra nó. “Hình dung” có nghĩa đen là “tạo ra một hình ảnh”. Hãy xét đến những lời chúng ta thốt ra khi phải vật lộn với một ý tưởng mới: “Tôi không hình dung được”, “Hãy để tôi tưởng tượng ra trong đầu”, “Tôi đang cố hình dung ra nó”. Thiết nghĩ, nếu như chức năng tưởng tượng đã đóng vai trò tối quan trọng như thế trong sự phát triển của một đứa trẻ, và nó cũng đã hiện diện trong nền văn minh của loài người nói chung, vậy thì ai là người đã sáng tạo ra các hình ảnh đi trước các ý niệm trừu tượng và ngôn ngữ mô tả? Đó chính là người nghệ sĩ. Trong các trang tiếp theo, tôi sẽ chứng minh nghệ thuật có tính cách mạng có thể được hiểu như thế nào với tư cách là giai đoạn tiền ngôn ngữ của một nền văn minh khi nền văn minh đó bắt đầu trăn trở để thay đổi về cơ bản sự nhận thức của nó đối với thế giới. Để diễn giải cho luận đề này, tôi sẽ nghiên cứu nghệ thuật không chỉ với tư cách là một đối tượng mĩ học làm mãn nhãn chúng ta, mà còn như một Hệ thống Cảnh báo từ xa của tư duy tập thể cả một xã hội. Nghệ thuật thị giác đã báo trước cho các thành viên khác rằng sắp sửa có một sự chuyển dịch khái niệm xảy ra trong hệ thống tư duy đang được sử dụng để nhận thức thế giới. Nhà phê bình nghệ thuật John Russell đã nhận xét: “Trong nghệ thuật, tồn tại một viễn kiến về thế giới mà chúng ta còn chưa tìm ra từ để gọi, chứ chưa nói đến chuyện giải thích được nó”.

Dù cả hai lĩnh vực đều đòi hỏi tương tự, nhưng người nghệ sĩ trong con mắt nhìn của mình bao giờ cũng có một dự cảm rất khác lạ, đi trước mọi phương trình của nhà vật lí. Theo một cách huyền bí nào đó, nghệ sĩ đã làm hiển hiện trong tác phẩm của mình những nét đặc thù của một mô tả vật lý về thế giới mà khoa học sau này sẽ khám phá ra.

Người nghệ sĩ biết rất ít hoặc hầu như không biết những gì đang diễn ra trong lĩnh vực vật lí, nhưng lại có thể gợi lên những hình tượng và những ẩn dụ thích hợp đến kinh ngạc khi đem chúng áp vào cái khuôn khổ khái niệm mà nhà vật lý dùng sau đó để xem xét lại các ý niệm của chúng ta về thực tại vật lí. Rất nhiều lần trong quá trình lịch sử, người nghệ sĩ đã đưa ra các biểu tượng và hình tượng mà sau này suy xét lại, chúng đã là những biểu trưng tiên phong cho các hình mẫu tư duy của một kỉ nguyên khoa học còn chưa ra đời. Tiếc rằng đã ít có nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật bàn bạc một cách thấu đáo về cái chức năng bí ẩn này của nghệ thuật. Nhà phê bình nghệ thuật Robert Hughes đã lý giải tại sao nó thường bị bỏ qua:

“Cái cốt lõi của huyền thoại tiên phong nằm ở chỗ người nghệ sĩ chính là một người đi trước. Một tác phẩm nghệ thuật thực sự có ý nghĩa là tác phẩm chuẩn bị cho tương lai. Nhưng trọng tâm chú ý của nền văn hóa, trái lại, thường có khuynh hướng coi cái hiện tại (người nghệ sĩ đang sống) chính là đỉnh cao của quá khứ”.

Khi đọc về tác phẩm của các nghệ sĩ bậc thầy, chúng ta quá thường xuyên được nghe nói về các phong cách quá khứ đã ảnh hưởng tới họ như thế nào. Phả hệ nghệ thuật của họ được truy ngược lên đến các nghệ sĩ tiền bối, và hiếm khi tác phẩm của họ được lý giải đã tiên đoán tương lai ra sao.

Một bộ phận khá lớn của xã hội hiện nay, do không thể hiểu nổi con mắt viễn kiến của nghệ thuật nên đã gạt bỏ tầm quan trọng của nó. Marshall McLuhan, trong tác phẩm có ảnh hưởng sâu xa của mình Hiểu thấu các phương tiện biểu đạt, đã đặt ra rất nhiều câu hỏi:

“Nếu con người ta có thể bị thuyết phục để tin được rằng nghệ thuật là sự hiểu biết trước một cách chính xác về cách phải đối phó thế nào với những hậu quả tâm lý và xã hội của nền công nghệ sắp tới, thì liệu tất cả họ có trở thành nghệ sĩ? Hoặc liệu con người có bắt đầu chuyển đổi một cách thận trọng các hình thức nghệ thuật mới thành các bản đồ dẫn đường xã hội? Tôi rất tò mò muốn biết cái gì sẽ xảy ra nếu đột nhiên nghệ thuật được nhìn nhận đúng như nó là thế, mà cụ thể là thông tin chính xác về cách bố trí lại tâm thức của con người như thế nào để chuẩn bị đón nhận một sự bùng nổ mới từ các giác quan được mở rộng ra của chính chúng ta…”

Nghệ thuật mang tính cách mạng ở mọi thời đại đều đã thực hiện cái chức năng chuẩn bị cho tương lai ấy.

Cả nghệ thuật lẫn vật lý đều là những hình thái ngôn ngữ độc nhất vô nhị. Mỗi một ngành đều có một kho từ vựng các kí hiệu đặc thù, được sử dụng theo một cú pháp riêng biệt. Các ngữ cảnh cụ thể và rất khác biệt của chúng đã làm mờ đi mối liên hệ của chúng với ngôn ngữ thường ngày cũng như giữa chúng với nhau. Tuy vậy, đáng chú ý là nhiều khi thuật ngữ của ngành này lại có thể áp dụng cho các khái niệm của ngành kia. “Thể tích”, “không gian”, “khối lượng”, “lực”, “ánh sáng”, “màu sắc”, “độ căng”, “quan hệ”, “mật độ” là những từ mô tả mà bạn liên tục được nghe khi theo chân một vị giáo sư bảo tàng đi tham quan suốt lượt các tác phẩm trưng bày. Các từ ấy cũng thường xuất hiện trên bảng đen trong những giờ giảng vật lý cho sinh viên năm thứ nhất. Những người theo đuổi hai cái ngành khác biệt hẳn nhau này đều say mê cháy bỏng sự thanh nhã, tính đối xứng, vẻ đẹp và mĩ học. Dấu bằng trong công thức của nhà vật lý là một ẩn dụ cơ bản được nhiều nghệ sĩ sử dụng. Trong khi nhà vật lý chứng minh rằng A bằng với B hay X tương đương Y, thì các nghệ sĩ lại thường chọn các dấu hiệu, kí hiệu và biểu tượng để đánh ngang bằng một hình ảnh được vẽ lên với một nét trải nghiệm nào đó. Cả hai kĩ thuật đều làm hiển lộ những quan hệ trước đó đã được che giấu.

Niels Bohr, một trong những người sáng lập ra vật lý lượng tử, mê mẩn trước mối quan hệ giữa vật lý và ngôn ngữ, đã nhận xét:

“Một trong những tiền giả định cơ bản của khoa học là chúng ta nói về các phép đo bằng một ngôn ngữ mà về cơ bản là thứ tiếng ta vẫn dùng để nói về các trải nghiệm hàng ngày. Chúng ta đã biết rằng thứ ngôn ngữ ấy là một phương tiện không đủ để truyền đạt và định hướng, nhưng mặc dù vậy, nó vẫn là cái tiền giả định cho tất cả các ngành khoa học… Bởi vì nếu chúng ta muốn nói một điều gì đó về tự nhiên – mà khoa học thì còn cố gắng làm gì khác thế nữa? – chúng ta phải bằng cách này hay cách khác chuyển từ ngôn ngữ toán học sang ngôn ngữ thường ngày”.

Vincent van Gogh cũng đề cập tới mối quan tâm tương tự khi ông viết cho Theo, em trai ông, trong một tâm trạng thất vọng về sự bất lực không diễn tả nổi các cảm giác của mình thành lời “thực tế, chúng ta chỉ có thể nói được qua các bức tranh của chúng ta mà thôi”.

Nghệ thuật mang tính cách mạng và vật lý dự báo đều cố gắng nói về những vấn đề chưa có lời để diễn tả. Vì thế, ngôn ngữ của chúng hầu như không thể hiểu nổi đối với những người ngoại đạo. Tuy nhiên, do chúng đều nói về cái chắn chắn sẽ đến, nên chúng ta sớm muộn gì rồi cũng sẽ biết được cách hiểu chúng.

Trong câu chuyện ngụ ngôn về Tháp Babel, nhân loại thuở sơ khai đã cố gắng tập trung một nguồn lực tập thể khổng lồ nhằm xây một cái tháp vươn lên đến tận trời. Chúa Trời qua màn mây nhìn xuống, thịnh nộ trước việc đám người trần thế dám cả gan nghĩ rằng mình có đủ sức lập nên một kì tích chỉ có thánh thần mới làm được này, ngay lập tức đã hóa phép làm rối loạn lời nói của những người thợ, và thế là làm cho việc xây dựng bị đình đốn.

Lịch sử đã ghi chép lại việc chúng ta xây tiếp một cách chậm chạp đến khốn khổ cái công trình chung huyền thoại tôn vinh trí thức này. Những ngờ vực hẹp hòi được một loạt các phương ngữ làm cho sâu sắc thêm, dần dần đã phải nhường chỗ cho một quan điểm phổ quát hơn của nhân loại hiện đại. Hiện nay, cái công trình đang được tiếp diễn này chính là sự sáng tạo nên một khối thịnh vượng chung toàn cầu. Cộng đồng rộng rãi các nghệ sĩ và nhà khoa học trên thế giới đã và đang là những người đi đầu trong việc hợp nhất đó và đưa ra những nhận thức về thực tại giúp xóa bỏ các ranh giới quốc gia và ngôn ngữ. Sự dung hòa những khác biệt bên ngoài giữa hai loại hình ngôn ngữ rất đặc biệt này của con người – nghệ thuật và vật lý – sẽ là bước tiếp theo quan trọng của chúng ta trên con đường xây Tháp Babel thống nhất cho mình.

Để hiểu thấu đáo hơn mối liên hệ giữa nghệ thuật và vật lí, chúng ta trước tiên phải đặt ra câu hỏi: “Ta hiểu biết thế giới bằng cách nào?”. Plato, trong luận đề loại suy về cái hang nổi tiếng của mình, đã ví con người chúng ta như các tù nhân bị xích chặt vào một vách thấp trong một cái hang, không thể xoay mình để tận mắt nhìn thấy các hành động sinh sống của những con người tự do cạnh một đống lửa lớn trên bệ cao ở phía sau. Thay vào đó, do bị xiềng xích ghìm chặt, chúng ta chỉ nhìn thấy những cái bóng của chính mình lẫn vào các hình bóng nhập nhòa của những con người tự do kia, hắt lên vách hang đối diện với lũ người tù chúng ta. Bộ máy tri giác của chúng ta bắt ta phải tin những hình ảnh người và vật chập chờn ấy chính là những cái “có thực”, và chúng ta rút ra bản chất của thực tại chỉ từ những thông tin thứ cấp gián tiếp ấy.

Hai nghìn năm sau Plato, một lần nữa, René Descartes khẳng định lại sự khác biệt đó giữa con mắt bên trong của trí tưởng tượng và thế giới sự vật bên ngoài. Ông tách cái “ở đây” (res cogitans) thuần tuý tinh thần của ý thức chúng ta ra khỏi thế giới khách quan của cái “ở ngoài kia” (res extensa) và tuyên bố rằng hai lãnh địa này là hoàn toàn tách biệt. Đến thế kỉ mười tám, trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý[1] của mình, Immanuel Kant đã củng cố thêm quan điểm của Plato và Descarte. Kant buồn bã tuyên bố rằng chúng ta chỉ có thể biết được bản chất của sự vật thông qua những gì đã được lọc qua các giác quan của chúng ta và được bộ óc của chúng ta xử lí; chúng ta không bao giờ có thể trực nghiệm được cái Ding an sich – vật tự nó. Bằng cách lưu đày chúng ta trong tòa tháp không thể vượt ra nổi của tư duy, Kant đã khẳng định rằng chúng ta chỉ he hé nhìn nhận được thực tại qua khe hẹp các giác quan của mình. Nỗi bất lực đến bức bối của chúng ta vì không hiểu biết được thế giới một cách trực tiếp là một trong những nghịch lý hiện sinh chủ chốt mà Kant nhận thức thấy trong thân phận con người. Trong tác phẩm xuất sắc Thế giới như là ý chí và ý niệm, Arthur Schopenhauer đã tổng kết quan điểm triết học đó trong câu mở đầu sắc sảo của ông: “Thế giới là ý niệm của tôi”.

Năng lực mà chúng ta sử dụng để nắm bắt bản chất của cái “ngoài kia” chính là trí tưởng tượng. Ở một nơi nào đó trong ma trận của bộ não, chúng ta dựng nên một thực tại tách biệt, được sáng tạo ra bởi ý thức tư duy, phi vật thể hóa. Cái thực tế bên trong này không liên quan gì với không gian bên ngoài và tồn tại ngoài dòng thời gian tuyến tính. Khi nhớ lại một ngày trên bãi biển, chúng ta đan các mảnh nhỏ của ngày hôm đó lại với nhau, những mảnh này đã không còn “thực sự” tồn tại nữa. Chúng ta có thể dễ dàng cho chạy tới chạy lui các sự kiện, thay đổi chúng với những khả năng khác nhau mà chúng ta tin là đã xảy ra. Qua cái bộ lọc tâm trạng của mỗi con người, hiện thực “khách quan” được nhìn nhận như là tai họa và niềm an ủi của nhận thức cá nhân: trong câu chuyện Rashomon cổ điển của Nhật Bản, mỗi một nhân vật lại tin vào sự thật theo phiên bản của riêng mình. Ý thức, giống hệt như các đoàn kiến xếp hàng dài, miệt mài chuyên chở từng mảnh của thế giới bên ngoài qua những đường hầm của các giác quan, rồi tái tạo lại nó ở trong não, cái hình ảnh ảo bên trong ấy tích tụ mãi lên, trở thành một “ý kiến” trong đầu từng cá nhân, mỗi người riêng một kiểu, về cách thức hoạt động của thế giới.

Khi một đám đông người đủ lớn cùng đồng ý với nhau về một quan điểm, chúng ta gọi sự đồng ý đó là một sự “nhất trí”. Sự nhất trí theo nhóm trong khuôn khổ xã hội dẫn chúng ta đến việc hình thành các chính đảng, các giáo phái và các hệ thống kinh tế. Mỗi một hình mẫu được dựa trên một hệ thống niềm tin đã được chấp nhận. Khi toàn bộ một nền văn minh đạt tới sự nhất trí về cách thức hoạt động của thế giới, thì hệ thống niềm tin ấy đã được nâng lên đến vị thế tối cao của một “hệ hình” mà các tiền đề của nó có vẻ hiển nhiên đến nỗi không ai cần phải chứng minh chúng nữa. Không còn bị nghi ngờ, các giả định mà hệ hình dựa trên đó sẽ trở thành các tiên đề. Hai cộng với hai luôn luôn là bốn và tất cả các góc vuông đều bằng nhau. Đối với người đã tin, những giả định ấy làm thành các “chân lí” vững như bàn thạch.

“Chân lí”, như Alfred North Whitehead định nghĩa, “là sự phù hợp của cái Vẻ bên ngoài với Thực tại”. Điều làm cho bất cứ một hệ thống chân lý vững như đá tảng nào cũng trở nên lung lay chính là việc mỗi một thời đại hay một nền văn hóa lại định nghĩa về sự khẳng định này theo cách riêng của mình. Khi thời gian đã điểm để thay đổi một hệ hình – từ bỏ một chân lý vững như bàn thạch và chấp nhận một chân lý khác – người nghệ sĩ và nhà vật lý hầu như chắc chắn bao giờ cũng đi tiên phong.

Một số người có thể phản bác việc ghép đôi nghệ thuật với vật lí, bởi vì người nghệ sĩ không những chỉ quan tâm đến hiện thực bên ngoài mà còn cả thế giới bên trong của tình cảm, tưởng tượng, mơ ước và cả tinh thần nữa. Trong khi nghệ thuật được coi là mang tính tương đối chủ quan, thì vật lý cho đến thế kỉ này vẫn cẩn trọng tránh bất kì sự đề cập nào đến sự liên quan giữa các tư duy bên trong và thế giới bên ngoài. Thay vào đó, vật lý bận tâm tới lãnh địa khách quan của các chuyển động, các vật thể và các lực. Sự khác nhau hiển lộ này giữa nghệ thuật và vật lý đã nhòa đi dưới ánh sáng của những phát lộ gây sửng sốt của các nhà vật lý lượng tử, nảy sinh từ sự kết hợp hai mặt đối lập nhau của ánh sáng.

Năm 1905, Albert Einstein đưa ra ý kiến nói rằng ánh sáng có thể tồn tại dưới dạng hạt, gồm các phần tử rất nhỏ gọi là photon. Trong vòng hơn hai trăm năm trước đó, ánh sáng đã được thực nghiệm chứng minh là một loại sóng. Ý kiến của Einstein đã ngụ ý rằng ánh sáng có hai bản chất khác biệt và dường như đối lập nhau: bản chất sóng và bản chất hạt. Ở ngưỡng cửa của thế kỉ hai mươi, đặc tính lạ lùng này của thực tại lượng tử đã trở thành một công án đạo Thiền. Cái nút thắt trí tuệ này dường như không thể nào tháo gỡ nổi, bởi không thể áp dụng các quy tắc logic thông thường để giải quyết.

Trong một nỗ lực táo bạo, năm 1926, Niels Bohrs đã hợp nhất hai mặt đối chọi này của ánh sáng trong thuyết về tính bổ sung của mình. Bohr nói một cách giản dị rằng ánh sáng không phải là sóng hay là hạt, mà nó vừa là sóng vừa là hạt. Cần phải hiểu biết cả hai mặt khác hẳn nhau này mới có thể mô tả trọn vẹn về ánh sáng; hiểu biết chỉ mặt này hay mặt kia thôi là không đủ.

Và như người ta qua thực tế đã thấy, ánh sáng chỉ để lộ một đặc tính của nó tại một thời điểm, kì cục giống hệt như trò nhòm lỗ xem hình tại hội chợ. Mỗi khi nhà vật lý lập ra một thí nghiệm để đo lường tính chất sóng của ánh sáng, thì hành động chủ quan của nhà vật lý quyết định sử dụng thiết bị đo nào – bằng một cách huyền bí nào đó – đã ảnh hưởng tới kết cục của thí nghiệm, và ánh sáng đã đáp lại với tư cách của một loại sóng. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra mỗi khi nhà vật lý bắt tay vào đo tính chất hạt của ánh sáng. Và như vậy, “tính chủ quan” – con chiên ghẻ của tất cả các khoa học (cũng như của mọi ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật) – đã miễn cưỡng được chấp nhận vào trong cái thành trì được bảo vệ cẩn thận của vật lý cổ điển. Werner Heisenberg, cộng sự gần gũi của Bohr, đã phát biểu ủng hộ cái quan niệm kì lạ này: “Việc phân chia thông thường thế giới ra làm hai phần chủ thể và khách thể, thế giới bên trong và thế giới bên ngoài, thể xác và tâm hồn, đã không còn thỏa đáng nữa… Khoa học tự nhiên không chỉ đơn giản là mô tả và giải thích tự nhiên; nó còn là một bộ phận của mối tương tác giữa tự nhiên và bản thân chúng ta”. Theo vật lý mới, người quan sát và vật được quan sát, bằng cách nào đó, có một mối liên kết với nhau; và cái lãnh địa của tư duy chủ quan ở bên trong con người hóa ra được kết giao mật thiết với thế giới bên ngoài của các thực tế khách quan.

John Wheeler, học trò của Bohr, sau đó đã mở rộng thuyết lưỡng diện của thầy mình, phát biểu rằng Bộ óc và Vũ trụ, giống như sóng và hạt, tạo nên một cặp bổ sung khác. Lí thuyết của Wheeler đưa ra một mối kết nối giữa địa hạt ý thức bên trong (Bộ óc) với cái tương hỗ của nó là thế giới bên ngoài của các tri giác (Vũ trụ). Theo Wheeler. Bộ óc và Vũ trụ đã tích hợp với nhau không thể nào tách bạch được. Bộ kinh Talmud của người Do Thái đã diễn tả mối quan hệ tinh tế này qua câu chuyện nửa thực nửa hư về một cuộc đối thoại giữa Chúa Trời và ông tổ Abraham của người Do Thái. Chúa bắt đầu bằng cách quở trách Abraham: “Nếu không phải là vì Ta, thì nhà ngươi đã không tồn tại”. Sau một thoáng trầm tư, Abraham kính cẩn đáp: “Thưa Chúa đúng thế ạ; con rất biết ơn và tôn quý điều ấy. Tuy nhiên, nếu không vì con, thì Người cũng sẽ không được biết đến”. Bằng một cách nào đó, là một trong những điều huyền bí nhất của vũ trụ, ý thức của con người đã đủ sức đặt ra những câu hỏi về tự nhiên và những câu trả lời nhận về thực sự là có thể hiểu được. Như Wheeler đã đề xuất, Bộ óc và Vũ trụ đơn giản là hai mặt của một hệ nhị nguyên. Và vì thế, nghệ thuật và vật lý có thể được nhìn nhận là hai gọng của cái kìm mà Bộ óc dùng để thâu tóm bản chất của Vũ trụ – cái hình ảnh bổ sung cho Bộ óc, theo lý thuyết của Wheeler.

Cùng thời gian với việc các nhà vật lý lượng tử đang vật lộn với lý thuyết về tính bổ sung của Bohr, một lý thuyết nằm ngoài khoa học cổ điển và có vẻ giáp ranh với tâm linh, thì nhà tâm lý học người Thụy sĩ Carl Jung đã đưa ra thuyết về tính đồng đại của mình, một hệ luận nội tại trong các trải nghiệm của con người đối với cái ý tưởng lượng tử của thế giới bên ngoài đó. Giống như Bohr, Jung từ bỏ học thuyết nhân quả thông thường. Ông cho rằng tất cả các sự kiện của con người đan dệt vào nhau trên một mặt bằng mà con người chúng ta không biết được một cách có ý thức vì thế bên cạnh nguyên nhân và kết quả tẻ nhạt, các sự kiện của con người đã được kết hợp với nhau trong một chiều kích cao hơn của ý nghĩa. Như đã làm cầu nối giữa hai lãnh địa khác hẳn nhau là thế giới tâm lý và thế giới vật lí, các nguyên lý đồng đại và bổ sung cũng có thể áp dụng hữu hiệu để kết nối nghệ thuật và vật lí. Tiếng Đức thể hiện trọn vẹn ý niệm này bằng từ zeitgest, mà rất tiếc là chỉ có thể diễn giải thành một nhóm từ mang nghĩa là “tinh thần của thời đại” (the spirit of the time). Khi các khám phá trong nhiều lĩnh vực không liên quan bắt đầu xuất hiện ở cùng một thời gian, có vẻ như là chúng có liên quan với nhau, nhưng sợi dây kết nối chúng rõ ràng không phải là nhân quả, thì lúc ấy các nhà bình luận phải viện dẫn đến sự hiện diện của một zeitgest.

Khởi đầu bằng việc dùng lý thuyết về tính bổ sung để thống nhất hai mặt đối lập và mâu thuẫn của ánh sáng. Bohr tiếp tục mở rộng công cụ triết học này của mình sang các cặp đối lập khác. Cuốn sách này sẽ nói về tính bổ sung của nghệ thuật và vật lí, và những phương cách mà hai lĩnh vực này đan bện với nhau thành một hàng rào mà chúng ta có thể trèo cao hơn lên một chút trên đó để thiết lập một quan niệm của chúng ta về thực tại. Việc hiểu được mối liên hệ này sẽ làm chúng ta tăng thêm lòng trân trọng với sức sống của nghệ thuật và làm sâu sắc thêm cảm giác tôn kính của chúng ta trước những khái niệm của vật lý hiện đại. Nghệ thuật và vật lí, giống như sóng và hạt, là một lưỡng diện tích hợp: chúng đơn giản là hai mặt khác nhau nhưng bổ sung cho nhau của một sự mô tả duy nhất về thế giới. Tích hợp nghệ thuật và vật lý sẽ kích thích sự nhận biết tổng hợp hơn, bắt đầu trong sự thắc mắc ngạc nhiên và kết thúc ở minh triết.

Khi nghiên cứu quá khứ, nhìn lại từ thời Hi Lạp cổ đại, chúng ta có thể thấy rằng các mối quan hệ của nghệ thuật ở một thời với vật lý ở một thời khắc muộn hơn ngày càng thể hiện rõ nét. Đôi chỗ, khoảng cách ấy là mấy trăm năm; đôi chỗ khác nó chỉ là vài thập kỉ. Ở thế kỉ hai mươi, mối liên kết đầy triển vọng giữa nghệ thuật và vật lý đã nảy sinh ở thập kỉ đầu tiên với việc cả hai lĩnh vực đều bùng nổ một loạt các phương hướng mới.

Thông thường, nghệ thuật luôn thấy trước những xem xét lại của khoa học về thực tại. Thậm chí ngay cả sau khi những xem xét lại ấy được phát biểu trong các tạp chí vật lý hàn lâm, thì các nghệ sĩ vẫn tiếp tục sáng tạo ra những hình ảnh hòa hợp với những nhận thức mới đó. Tuy nhiên, khi nghiên cứu thư từ, lời bình phẩm, các cuộc trao đổi của các nghệ sĩ, thì thấy họ đã hầu như không hề biết rằng tác phẩm của họ có thể được giải thích dưới ánh sáng của những nhận thức khoa học mới về bản chất của thực tại. Trong những trường hợp đó, người nghệ sĩ vẫn tiếp tục làm việc trong sự cô độc huy hoàng, sáng tạo nên những biểu tượng mới giúp cho những người còn lại như chúng ta ít nhiều hiểu được ý nghĩa của những khái niệm mới – những khái niệm mà ngay chính họ, các nghệ sĩ, có thể cũng chưa định hình nên trong tâm trí.

Nguyên lý này cũng đúng khi nhìn ngược từ phía bên kia. Nhà vật lí, khi khám phá ra bí mật của tự nhiên, cũng thường không biết đến những hình ảnh tiên cảm của người nghệ sĩ. Hầu như hiếm có nhà vật lý nào, khi đưa ra một lý thuyết đột phá trong khoa học, lại thừa nhận là đã có một nghệ sĩ tiền bối ảnh hưởng đến mình. Mặc dù lịch sử đã chứng kiến nhiều tình bạn sâu sắc giữa các nhà khoa học và nghệ sĩ, nhưng những bậc thầy cách mạng trong nghệ thuật và những nhà khoa học có tầm nhìn sâu xa trong vật lý có vẻ lại cách biệt nhau đến khác thường. Picasso và Einstein, những người mà tôi sẽ chứng minh là có cùng một viễn kiến, chưa hề gặp nhau hoặc tỏ ra quan tâm đến tác phẩm của nhau.

Vì nghệ thuật tạo hình không tồn tại độc lập với âm nhạc, sân khấu, thi ca, văn học, triết học và kiến trúc, nên tôi sẽ dệt những đường sợi đó vào tấm vải của câu chuyện này khi nào thấy phù hợp. Tuy vậy, sợi chỉ chủ đạo của cuốn sách này sẽ là nghệ thuật tạo hình của nền văn minh phương Tây trên cái nền của khoa học vật lí. Sợi chỉ này sẽ được lần theo từ Lưỡng Hà, Ai Cập, Hi Lạp rồi La Mã cổ đại. Sợi chỉ có vẻ như bị đứt trong đoạn gãy của Kỉ nguyên Tăm tối, nhưng trong cái giai đoạn đêm trường ấy, nó thực sự vẫn được se dệt một cách thầm lặng vào châu Âu, rồi lại đột ngột ló ra vào thời Trung Cổ và rồi, giống như con phượng hoàng hồi sinh từ tro lửa, nó tái xuất hiện một cách huy hoàng trong thời Phục hưng. Nền văn hóa mà chúng ta gọi là truyền thống phương Tây ấy từ đó trải rộng mãi ra, cho đến khi bao trùm cả châu Âu và các nước châu Mĩ.

Để tạo được một bối cảnh trong đó có thể bình luận về từng tác phẩm riêng biệt của các nghệ sĩ và cái cách mà chúng liên quan đến các lý thuyết của nhà vật lí, ta cần phải bắt đầu với Hi Lạp cổ đại, nơi mà nhiều nền móng của các hệ thống giá trị và tư tưởng đương đại của chúng ta khởi nguyên. Không khác mấy với các đấng bậc vĩ đại sáng lập ra những tôn giáo lớn của thế giới này, các nhà tư tưởng Hi Lạp thuở sơ khai bắt đầu việc tìm hiểu của mình bằng cách cho rằng cái thế giới với biểu hiện bên ngoài vô cùng đa dạng này đã phát sinh từ một nguyên lý đơn nhất toàn vũ trụ. Mỗi một người trong số họ đều cố gắng qua toàn bộ các trải nghiệm, lần dò ngược về một nguyên tố khởi thủy chung. Vào khoảng năm 580 trước Công nguyên (CN), Thales ở thành Miletus, nhà triết học đầu tiên của nhân loại, đã tuyên bố rằng nguyên tố đó là nước. Gần như ngay lập tức, Heraclitus đã bác bỏ, khẳng định rằng nguyên tố khởi thủy phải là lửa, Rồi nhiều người khác nhanh chóng cất tiếng nói bỏ phiếu cho không khí hay đất. Tại một trong những tổng hợp vĩ đại đầu tiên của khoa học (và tôi có thể nói thêm rằng – một trong những thỏa hiệp đầu tiên được biết đến), Empedocles đã đưa ra quan điểm cho rằng có lẽ không chỉ có một thành tố nguyên thủy mà đúng ra là cả bốn nguyên tố. Nếu như ở cội rễ của thực tại đúng là có bốn nguyên tố cơ bản này, thì toàn bộ sự tồn tại có thể được giải thích bằng các kiểu kết hợp khác nhau của bốn hòn đá tảng ấy là nước, lửa, đất và không khí. Quan điểm này được trường phái các nhà triết học cổ đại “cảm thấy” là đúng, có lẽ vì con số bốn thường gợi nên ý tưởng về nền tảng. Dù là bốn hướng của la bàn, bốn góc của một hình vuông hay là bốn chân của một chiếc bàn, con số chủ đạo này đều toát lên một kì vọng về tính hoàn thiện cơ bản.

Tuy nhiên, một trăm năm sau Empedocles, Aristotle cảm thấy không hoàn toàn thỏa mãn với cái sơ đồ ấy. Ông quan sát thấy rằng vạn vật trên trái đất này đều ở những trạng thái khác nhau của sự thay đổi liên tục và cho rằng còn thiếu một thứ gì đó. Bị ảnh hưởng bởi quan niệm của Plato về một lý tưởng vĩnh cửu, Aristotle cho rằng, bổ sung cho bộ tứ mà Empedocles đã đưa ra, nhất thiết phải có một yếu tố cốt lõi thứ năm – một quintessence – tồn tại bền vững và bất biến, và bằng cách nào đó đã liên kết bốn nguyên tố kia lại. Vì các chòm sao dường như không thay đổi trên hành trình của chúng ngang qua vòm trời, ông cho rằng nguyên tố thứ năm đó được tạo nên bởi vật chất của các ngôi sao.

Mặc dù vào nửa sau của thế kỉ hai mươi, chúng ta đã từ bỏ các ý niệm kì cục này của người Hi Lạp cổ đại, nhưng cái sơ đồ cổ đại ấy lại mang một vẻ quen thuộc đến lạ lùng. Trong mẫu hình hiện nay của mình, chúng ta vẫn thừa nhận bốn kết cấu cơ bản của thực tại: đó là không gian, thời gian, năng lượng và vật chất. Không gian và thời gian hợp thành cái khung trong đó con người chúng ta sinh sống và cũng trong cái khung ấy, năng lượng, vật chất và vô vàn những kết hợp của chúng đã tạo ra thế giới hiển hiện trước mắt chúng ta. Bốn thành tố cơ bản này đã tạo nên một vòng tròn viên mãn của cái toàn thể. Tất cả nhận thức được tạo ra trong căn phòng mơ mộng của tâm trí chúng ta cũng được xây dựng nên từ bốn viên gạch cơ bản này.

Khi nhìn lên ánh sáng các vì sao, phỏng đoán của Aristotle thật gần gũi với thực tại của vật lý thế kỉ hai mươi. Nguyên tố thứ năm, như chúng ta đã biết, không phải là các ngôi sao, mà chính là bản thân ánh sáng. Và điều này, cũng thật là phù hợp. Xa vời và bí hiểm, cái căn cốt thứ năm này đã tạo nên niềm kinh ngạc và sùng kính suốt chiều dài lịch sử. Dù là điều huyền diệu của lửa hay là những tia đem lại sự sống từ mặt trời, ánh sáng bản thân nó luôn luôn là thành tố huyền bí nhất. Nó được tôn lên một vị trí nổi bật trong mọi tôn giáo trên thế giới, và các khám phá trong vật lý hiện đại đã phát lộ rằng chính bản chất khác lạ độc nhất vô nhị của ánh sáng là chìa khóa để mở ra các bí mật của bốn thành tố kia. Cả hai lĩnh vực cơ học lượng tử và thuyết tương đối đều đã ra đời từ hai câu hỏi chưa được giải đáp về bản chất của ánh sáng. Sau đó, Einstein đã khám phá ra rằng vận tốc của ánh sáng là một hằng số. Bằng một cách lạ lùng nào đó, ánh sáng chính là mối nối, liên kết không gian, thời gian, năng lượng và vật chất. Kí hiệu của vận tốc ánh sáng trong vật lý – chữ C – đóng một vai trò nổi bật trong các phương trình chủ chốt liên kết bốn thành tố kia.

Trong các chương tiếp theo, chúng ta chủ yếu sẽ tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa không gian, thời gian và ánh sáng. Lí do phải rút về xoay quanh ba thành tố này là nhằm thu hẹp tiêu điểm, làm cho cuộc bàn luận của chúng ta nằm trong phạm vi có thể kiểm soát được hơn. Bản thân một cuốn sách về nghệ thuật đã chứa đựng rất nhiều trào lưu và nhân vật. Tương tự, một cuốn lịch sử vật lý cũng có sự đa dạng như vậy. Khi cố gắng tích hợp một lĩnh vực này với lĩnh vực kia, công trình sẽ có nguy cơ chìm nghỉm trong một đầm lầy các tên tuổi, ngày tháng và diễn biến. Không gian, thời gian và ánh sáng là ba trụ cột đã được Albert Einstein xem xét trong thuyết tương đối hẹp năm 1905 của ông. Chúng sẽ là các nhân vật chính của bản tổng hợp sau đây. Tuy nhiên, các quan niệm của cơ học lượng tử, sự tương đương giữa khối lượng và năng lượng, cũng như các lý thuyết trường – là những cuộc cách mạng vật lý khác không kém phần quan trọng – cũng sẽ được chúng tôi đề cập tới khi thấy thích hợp.

Chú thích

  1. Bước lên Phê phán lý tính thuần túy, Immanuel Kant, Bùi Văn Nam Sơn dịch, Nxb Văn học, 2004.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
  • Nguồn đăng bài: vi.kipkis.com
Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *