Văn hoá đại chúng

NÉT THANH LỊCH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI QUA VĂN HÓA DÂN GIAN

Võ Quang Trọng

PGS. TS. Viện Nghiên cứu văn hoá

Kể từ khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra “thành Đại La ở nơi trung tâm trời đất” đến nay đã ngót một nghìn năm. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, lớp lớp cư dân ở mọi miền quê về tụ cư sinh sống ở mảnh đất này đã chung sức sáng tạo nên một nền văn hoá mang đậm bản sắc của một vùng đô hội.

  1. Văn hoá dân gian thể hiện vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội

Kể từ khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra “thành Đại La ở nơi trung tâm trời đất” đến nay đã ngót một nghìn năm. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, lớp lớp cư dân ở mọi miền quê về tụ cư sinh sống ở mảnh đất này đã chung sức sáng tạo nên một nền văn hoá mang đậm bản sắc của một vùng đô hội. Quá trình hội tụ, giao lưu đã kết tinh nên phẩm chất cao đẹp của người Kẻ Chợ –  Kinh Kì và không biết từ bao giờ trong dân gian đã cất tiếng ngợi ca một trong nhiều cái nhất của Thăng Long – Hà Nội:

Nhất cao là núi Ba Vì

Nhất lịch, nhất sắc, kinh kì,Thăng Long.

  Vậy “thanh lịch”, một trong những phẩm chất tốt đẹp của người Hà Nội là gì và nó được biểu hiện trong văn hoá dân gian như thế nào?

  Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cho rằng “thanh lịch” có nghĩa là “thanh nhã, lịch sự”. Còn nhà nghiên cứu văn hoá Hoàng Đạo Thúy giải thích hai từ “thanh lịch” như sau: Người Tràng An là người kinh kì “thanh”, không tục, không thô lỗ, “lịch”, lịch thiệp, lịch sự. Thanh lịch là cái phong cách sống của người Hà Nội.

  Trước hết cần phải khẳng định rằng, “sành ăn, sành mặc” và biết “ăn ngon, mặc đẹp” là nét đặc trưng và đã trở thành một “thói lề riêng” của cư dân nơi đây.

  Đối với người Hà Nội, ăn uống không đơn giản là cung cấp nguồn năng lượng để duy trì sự sống mà nó đã trở thành một phong cách nghệ thuật riêng. Bàn tay khéo léo, tinh tế và tài hoa của người Hà Nội đã tạo nên những món ăn có dấu ấn riêng vừa ngon, vừa đẹp vừa hấp dẫn và thích thú. Cũng là món ăn bình thường mộc mạc ở nơi thôn dã nhưng đã được người dân nơi đây tạo ra hương vị riêng làm cho mọi người thật khó mà quên được. Sự đa dạng về màu sắc, phong phú về chủng loại, hương vị đậm đà của các món ăn Hà Nội đã tạo nên nét độc đáo, đặc sắc trong văn hoá ẩm thực của chốn phồn hoa đô hội.

  Khá nhiều địa danh nổi tiếng về các món ăn và đặc sản của vùng đất này đã được ca dao, tục ngữ nhắc đến:

Thanh Trì có bánh cuốn ngon.

  Thanh Trì là địa phương nổi tiếng về món bánh cuốn, thứ bánh trắng trong, mỏng mịn, dẻo và thơm được chấm với nước mắm ngon có ít gia vị như chanh, ớt, hạt tiêu trở thành món quà hấp dẫn. Ngoài bánh cuốn Thanh Trì, bánh dày ở làng Quán Gánh cũng rất nổi tiếng:

 Bánh cuốn Thanh Trì, bánh dày Quán Gánh.

  Nhiều nơi biết làm cốm nhưng có lẽ không có nơi nào hạt cốm dẻo, thơm và ngon lại được gói trong lá sen như ở làng Vòng và cốm Vòng từ lâu đã trở thành món quà được nhiều nơi biết đến vì cái hương vị riêng biệt ấy:

Gắng công kén hộ cốm Vòng

Kén hồng Bạch Hạc cho lòng em vui.

  Làng Vòng thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, có nghề làm cốm cổ truyền lâu đời. “Cốm vòng được chọn làm bằng giống nếp hoa vàng, thứ nữa là nếp nâu, nếp chấm đầu, đón lúa non vào sữa vừa đúng thì – chỉ người lành nghề mới biết được –  đi bứt lúa về nhà, sàng sẩy, đãi sạch hạt lép để rải chỗ thoáng cho ráo chứ không phơi nắng mất hương. Cho lúa non rang, đảo đều vừa chín tới, quá lửa ra cốm sẽ giòn và ngả màu trắng làm kém ngon và mất đẹp. Cốm giã trong chiếc cối riêng nông lòng, rộng miệng, mỏ chày tròn đều và ngắn, cầm nặng. Vừa giã vừa đảo đều tay cho cốm trốc vỏ. Mỗi lần giã vài trăm chày lại sàng sẩy. Qua năm sáu lượt mới xong một mẻ. Rải cốm vào lá sen già mà ủ lại, vừa giữ được hương lúa, vừa ướp lấy mùi ngát dịu của lá sen. Cốm đầu nia hạt mảnh như lá me, xanh đều thơm lâu được để dành cho khách sành. Ăn cốm phải ăn thong thả, nhấm nháp chút một, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, tận hưởng cái hương vị tuyệt mĩ của đất trời đem cho. Cốm là quà trang nhã, thanh lịch, không chấp nhận sự thô bạo, vội vàng”(1). Và cốm Vòng là một đặc sản nổi tiếng của Kẻ Chợ:

Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua.

  Ngoài cốm Vòng, làng Mễ Trì (tên nôm là Kẻ Mẩy), từng sản xuất gạo thơm nổi tiếng, cúng tiến vua, được vua đặt tên là Mễ Trì (cái ao gạo). Làng còn có tên là Mễ Sơn (núi gạo). Gạo thơm Mễ Trì có nhiều loại như tám xoan, tám hương, dự hương, dé cánh… cũng rất nổi tiếng:

Mễ Trì thơm gạo tám xoan

Dự hương, dé cánh thóc vàng như tơ.

  Hà Nội còn nổi tiếng với những món ăn gắn với từng địa danh cụ thể với những “Giò Trèm, nem Vẽ, chuối Xù”, “Khoai lang Triều Khúc, bánh đúc Đơ Bùi”. Đó là “ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây”, là “Cá rô Đầm Sét”……

  Không ai có thể quên được hương vị đậm đà, khó quên của bát bún ốc, bún chả, bún thang, bát phở, bánh tôm Hồ Tây và chả cá Lã Vọng.

  Thật ra nhiều món ăn ở Hà Nội được mang từ nhiều miền quê đến nhưng do cách chế biến, cách bày biện, màu sắc bắt mắt và cách ứng xử trong ăn uống của người Kinh Kì đã tinh tế hoá cách ẩm thực của dân quê nên ẩm thực của cư dân nơi đây đã tạo thành một thứ nghệ thuật riêng đặc sắc.

  Không chỉ “sành ăn”, người Thăng Long – Hà Nội còn biết khéo mặc, mặc  hợp thời tiết, khí hậu. Nhìn chung cư dân ở đây chuộng những vải vóc, lụa là có gam màu trang nhã, ghét màu sắc lòe loẹt, lại được may hợp thời trang vừa gọn gàng, kín đáo mà không kém phần duyên dáng, lịch lãm mang vẻ đẹp sâu lắng và rất độc đáo.

  Trang phục của người Hà Nội được tạo nên bởi lĩnh Sài, nhiễu Giấy –  những làng nghề nổi tiếng từ xưa:

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về Kẻ Bưởi với anh thì về

Làng anh có ruộng tứ bề

Có hồ tắm mát có nghề quay tơ.

  Kẻ Bưởi chỉ chung các làng thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận trước kia, nay thuộc quận Tây Hồ. Làng Trích Sài ở đây có nghề dệt lĩnh nổi tiếng.

  Đã có một thời chiếc áo dài màu sắc trang nhã, chiếc nón ba tầm và đôi guốc mộc đã tôn lên vẻ đẹp lịch lãm, duyên dáng của người phụ nữ Thăng Long – Hà Nội:

Nón này em sắm đáng trăm

Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa

Nón này che nắng che mưa

Nón này để đội cho vừa đôi ta.

  Trong cuốn Phố phường Hà Nội xưa, nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thúy đã viết về vấn đề này như sau: “người Hà Nội chuộng lối sống khoan hoà, giản dị. Ghét lòe loẹt mà thích diểm dắn. Tránh tiếng xa hoa. Dù giàu sang, áo có mớ năm, mớ bảy, cũng phủ một chiếc áo thâm hay tam giang”… Vì là người Kinh Kì nên dân Hà Nội đi đâu cũng được người ta trọng, lại cũng được mến về tính yêu khách. ở các nơi, khi người ta nói “nhà tôi có khách Hà Nội về”, là nhiều bà con muốn đến gặp”(2).

  Vẻ đẹp thanh lịch của người Thăng Long – Hà Nội còn thể hiện ở cách ứng xử  trong giao tiếp. Từ lâu, người Hà Nội đã được mọi miền biết đến như là người lịch thiệp:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Chẳng lịch cũng thể con người Thượng kinh.

  Giao tiếp lịch sự, tỏ rõ sự hiếu khách là nét đặc trưng của người Kẻ Chợ. Cô gái ở chốn phồn hoa thật ý tứ, ân cần chu đáo thể hiện trong giao tiếp:

Ba gian nhà khách

Chiếu sạch, giường cao

Mời các thầy vào

Muốn sao được thế.

Mắm Nghệ lòng giòn

Rượu ngon cơm trắng

Các thầy dù chẳng sá vào

Hãy dừng chân lại em chào cái nao

Đêm qua em mới chiêm bao

Có năm ông cử mới vào nhà em

Cau non bổ, trầu cay têm

Đựng trong đĩa sứ em đem ra mời…

  Cách ứng xử của người Hà Nội biểu hiện trước hết là ở tiếng nói. Tiếng nói của người Hà Nội, nhẹ nhàng, êm ái, uyển chuyển và khá chuẩn xác. Trong giao tiếp, người Hà Nội sử dụng ngôn ngữ khá linh hoạt, khiến cho người nghe, nhất là người ở các địa phương khác, rất dễ mến, dễ cảm và dễ cuốn hút. Cùng với tiếng nói là thái độ cử chỉ, trang phục tạo nên sự lịch lãm, tế nhị mà hầu như chỉ có riêng của người Hà Nội.

  Nhìn chung, người Hà Nội rất có ý thức trong giao tiếp, chú trọng lời ăn tiếng nói theo một phong cách riêng mà ít địa phương nào trong cả nước có được.

  Ngoài ra, khiếu thẩm mĩ cũng thể hiện phẩm chất thanh lịch của người Hà Nội. Những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làm nghề truyền thống đã tạo nên những sản phẩm đẹp và tinh tế. Thú chơi hoa, cây cảnh tao nhã chẳng những làm đẹp cuộc sống hằng ngày, nhất là trong những ngày lễ, tết mà còn tạo nên phong cách riêng của cư dân Hà Nội.

  Những phẩm chất tốt đẹp của người Thăng Long – Hà Nội được tạo nên trong suốt quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này. Chúng được chắt lọc, kết tinh từ mọi miền đất nước và cả tinh hoa văn hoá bên ngoài trong quá trình giao lưu, hội nhập tạo cho con người Thăng Long – Hà Nội vừa thuần hậu, lịch sự, vừa hào hoa, phong nhã. Cái riêng đó, nét đẹp văn hoá đó có giá trị độc đáo, đặc sắc của cư dân chốn Kinh Kì – Kẻ Chợ.

  1. Thử lí giải mặt hạn chế của người Hà Nội hiện nay

Trong nhiều năm trở lại đây, mặt trái của người Hà Nội xuất hiện và có chiều hướng gia tăng làm nhức nhối xã hội. Những biểu hiện như nói tục, chửi bậy, gây gổ đánh nhau, sự bừa bãi, mất vệ sinh, giao tiếp sỗ sàng, ăn mặc lố lăng, trộm cắp, cướp giật cho đến các tệ nạn ma túy, mại dâm, của một bộ phận cư dân chẳng những làm nhạt nhòa vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội mà còn làm băng hoại các giá trị đạo đức xã hội hiện nay.

  Phải chăng hình ảnh thanh lịch của người Hà Nội đã lắng chìm trong quá khứ? Do đâu mà lối sống xô bồ có phần lưu manh hoá xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như vậy?

  Chúng ta biết rằng, trong lịch sử tồn tại và phát triển, cư dân Thăng Long – Hà Nội là dân “tứ chiếng”. Họ đến đây lập nghiệp, sinh sống chủ yếu là cư dân từ nhiều miền quê khác nhau. Đó là những bậc hiền tài về Thăng Long để làm quan, làm thầy thuốc, thầy giáo, thầy địa lí. Không ít người về Kẻ Chợ là những người thợ khéo, người buôn bán, người làm thuê,… Nhiều cái hay, cái tốt, cái đẹp được hội tụ về đây và cả tập quán lạc hậu, thói quen của lối sống tự do ở các làng quê không phù hợp với nếp sống của Thăng Long – Hà Nội cũng theo bước chân họ về chốn Kinh Kì. Thế nhưng do họ ý thức được mình là cư dân của một vùng đô hội, trung tâm của đất nước nên những thói xấu của người Việt tiểu nông bị kìm nén, không có điều kiện trỗi dậy. Và cảm giác chung là mặt hạn chế bị phai nhạt dần, nhường chỗ cho cái tốt có điều kiện hội tụ, giao lưu, kết tinh và toả sáng.

  Cũng phải thấy rằng từ thời điểm trước 1945, số người đến lập nghiệp sinh sống ở Thăng Long – Hà Nội không tăng đột biến như giai đoạn sau này. Chính sự gia tăng không lớn của cư dân về vùng đất này cho nên quá trình giao lưu văn hoá diễn ra tương đối bình thường. Văn hoá Thăng Long – Hà Nội tiếp nhận và làm biến đổi văn hoá của mọi miền quê hội tụ về đây. Do đó những biểu hiện tiêu cực của dân “tứ chiếng” không làm lấn át mặt tốt của cư dân sinh sống lâu đời ở nơi đây. Hơn nữa, mặt hạn chế, thói quen sinh hoạt tự do thường chỉ xuất hiện ở thời gian đầu, khi cư dân mới đến, dần dần trải qua nhiều năm tháng đủ để sàng lọc khiến cho chúng bị nhạt nhòa nhường chỗ cho cái đẹp, cái hay, cái tốt lan tỏa. Vì vậy nét thanh lịch của cư dân Kẻ Chợ chẳng những không bị ảnh hưởng, trái lại càng ánh lên ngời sáng hơn.

  Điều đó cũng giúp chúng ta lí giải được vì sao hiện nay mặt hạn chế của người Hà Nội, đang có phần nổi lên khiến nhiều người không khỏi băn khoăn, lo lắng. Không ít người cho rằng, những biểu hiện không lành mạnh đó là do mặt trái của nền kinh tế thị trường? Đấy cũng chỉ là một trong số nhiều nguyên nhân khiến cho những biểu hiện lệch chuẩn, sai trái đang tồn tại. Thực tế là trong nhiều năm nay, đặc biệt từ sau năm 1975, số dân tăng cơ học trên địa bàn Hà Nội là rất lớn. Sự gia tăng dân số, với nhiều thành phần đã tạo ra một áp lực lớn đối với xã hội. Bên cạnh đó, thói quen của lối sống tự do ở nông thôn của cư dân mới đến chưa đủ thời gian sàng lọc để  hoà nhập chung với nếp sống đô thị. Vì vậy, hiện nay mặt trái vẫn tồn tại đan xen với nhiều mặt tốt trong đời sống của cư dân Hà Nội.

  1. Một vài giải pháp nhằm phát huy phẩm chất tốt đẹp của người Hà Nội

– Tiếp tục làm sáng tỏ vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội, kết hợp với việc tuyên truyền rộng rãi dưới nhiều hình thức bằng các phương tiện thông tin đại chúng như báo hình, báo nói, báo viết nhằm đề cao những phẩm chất tốt đẹp của người Thăng Long – Hà Nội. Gần đây, cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm  có sức tác động và gây ảnh hưởng rất lớn đối với mọi tầng lớp trong xã hội đặc biệt là giới trẻ thủ đô. Vấn đề đặt ra là nếu chúng ta biết khơi dậy được phẩm chất tốt đẹp, chân thật của những gương người tốt thì tác dụng giáo dục sẽ rất lớn và có hiệu quả.

  – Tuyên truyền vận động nhân dân sống và làm việc theo pháp luật, xây dựng nếp làm việc khoa học, văn minh, lịch thiệp ở các cơ quan, công sở. Đối với những cơ quan hằng ngày tiếp xúc với dân, cần công tâm, tránh làm phiền hà, sách nhiễu dân. Các lực lượng chức năng như công an và đội giữ gìn trật tự đô thị hoạt động theo pháp luật nhưng cũng phải rất tình người, xử sự phải đàng hoàng thể hiện được phẩm chất của người cán bộ ở thủ đô văn minh.

  – Thực hiện tốt phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới, tạo ra một môi trường tốt trong gia đình, giáo dục lối ứng xử có nề nếp trong giao tiếp hằng ngày. Bên cạnh đó, việc giáo dục ở nhà trường cũng có tầm quan trọng đặc biệt. Phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường đối với lớp trẻ là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài. Trong đó cần đa dạng hoá các hình thức giáo dục tuyên truyền ở nhà trường, tránh lối áp đặt, bắt buộc, nên sử dụng những hình thức phù hợp để giáo dục có hiệu quả cao. Ngoài ra cần có sự phối hợp với các cơ quan, đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên trong việc tuyên truyền những tấm gương tiêu biểu cho vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội nhằm nâng cao lòng tự hào của người dân thủ đô.

  Hà Nội có điểm tựa một nghìn năm, nơi hội tụ tinh hoa của cả nước, chắc rằng với ý thức công dân cao, người Hà Nội sẽ làm đẹp thêm hình ảnh của mình để xứng đáng với công dân của một thành phố anh hùng, thủ đô vì hoà bình.

Chú thích:

(1) Đinh Gia Khánh chủ biên, Trần Tiến đồng chủ biên (1991) Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, Sở Văn hoá và Thông tin Hà Nội xb, tr. 216.

(2) Hoàng Đạo Thúy (1974) Phố phường Hà Nội xưa, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội xb, tr. 31.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Viết Chức chủ biên (2002), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Viện Văn hoá, Nxb. Văn hoá thông tin xb.
  2. Triêu Dương, Phạm Hoà, Tảo Trang, Chu Hà (1972), Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội xb.
  3. Chu Hà, Trần Lê Văn, Nguyễn Vinh Phúc (1981), Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội xb.
  4. Đinh Gia Khánh chủ biên, Trần Tiến đồng chủ biên (1991), Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, Sở Văn hoá và Thông tin Hà Nội xb.
  5. Vũ Khiêu, Nguyễn Vinh Phúc (2004), Văn hiến Thăng Long, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Hoàng Phê chủ biên (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học xb.
  7. Đặng Duy Phúc (1996), Thăng Long – Đông Kinh – Hà Nội quê hương và nơi hội tụ nhân tài, Nxb. Hà Nội.
  8. Hoàng Đạo Thúy (1974), Phố phường Hà Nội xưa, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội xb.
  9. Hoàng Đạo Thúy, Tràng An thanh lịch (Báo Nhân dân các số ra ngày 2, 3, 5 tháng 10 năm 1994)

Ảnh minh họa của Na Sơn

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Dân gian

 

Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *