Tận hưởngTình yêu - Tình dục

Giới tính và quan hệ giữa các vai giao tiếp trong hát phường vải Nghệ Tĩnh

1.Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tác động lẫn nhau thông qua các diễn ngôn của những người tham gia giao tiếp. Trong một cuộc giao tiếp, các vai giao tiếp được đặt vào các mối quan hệ, và những mối quan hệ này đóng vai trò chi phối cả nội dung lẫn hình thức hoạt động giao tiếp. Đó là quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân [3, tr. 97].
Ở bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập tới quan hệ của các vai giao tiếp xét từ giác độ giới tính trong một phạm vi ngữ liệu cụ thể: Hát phường vải Nghệ Tĩnh.

2. Giới thuyết về quan hệ của các vai giao tiếp

2.1. Quan hệ tương tác:

Giao tiếp là tương tác, do đó vai giao tiếp (còn gọi là các đối ngôn) cũng là vai tương tác. Trong hoạt động giao tiếp, vai tương tác bao gồm vai nói và vai nghe (còn gọi là vai phát và vai nhận). Ở những cuộc giao tiếp miệng, cả hai vai thường trực tiếp tham gia, tổ chức nên hội thoại dưới hình thức luân phiên lượt lời, tức là vừa vào vai người nói, vừa vào vai người nghe. Do đó, thiếu một vai sẽ không thể thành giao tiếp.

Tuy nhiên, trong thực tế, có thể vai nói vẫn là một nhưng vai nghe có thể lớn hơn một, tức là có thêm người nghe ngoài cuộc (và gọi theo cách của tác giả Đỗ Hữu Châu là người ngoài cuộc tương đối và người ngoài cuộc tuyệt đối). [3, tr. 97-104]

2.2. Quan hệ liên cá nhân:

Trong giao tiếp, quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau. Mối quan hệ này được thể hiện trên cả hai trục: (i) trục quyền thế xã hội, còn gọi là trục quyền uy (power) và (ii) trục quan hệ khoảng cách (distance), còn có thể dịch là thân sơ (solidarity).

Xét trên trục quyền thế, địa vị xã hội của mỗi người được xác định dựa trên tuổi tác, nghề nghiệp, quyền lực và sự phân biệt trên cơ sở văn hoá của từng xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Do đó, quan hệ quyền thế thường là quan hệ phi đối xứng, hầu như được giữ nguyên trong quá trình giao tiếp, không phụ thuộc vào chiến lược giao tiếp của các bên tham gia, có nghĩa là không thể thông qua thương lượng mà thay đổi vị thế.

Xét trên trục quan hệ khoảng cách, các nhân vật tham gia giao tiếp có thể có mối quan hệ liên cá nhân theo hai cực với những mức độ khác nhau: hoặc thân tình/ hoặc xa lạ. Mức độ thân cận thường tỷ lệ thuận với mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các vai giao tiếp, nhưng không có nghĩa là càng hiểu nhau thì mối quan hệ sẽ càng thân tình hơn. Thực tế cho thấy quan hệ khoảng cách là quan hệ đối xứng trên cơ sở sự cộng tác giữa các bên tham gia giao tiếp, được hình thành, phát triển và thay đổi thông qua thương lượng bằng các chiến lược giao tiếp trong suốt quá trình hội thoại [3, tr 104-106].

Giới tính của các vai giao tiếp có sự chi phối đối với cả hai quan hệ nói trên. Điều này thể hiện rõ trong hát ví phường vải Nghệ Tĩnh.

3. Quan hệ của các vai giao tiếp trong hát phường vải Nghệ Tĩnh

3.1. Hát phường vải Nghệ Tĩnh

Hát phường vải (HPV) là một loại hình văn học dân gian, một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh. Cũng như các loại dân ca khác, nó là một phương tiện văn nghệ tự túc của nhân dân, gắn liền với các phường vải của các cô gái xứ Nghệ, nhất là các vùng Nghi Xuân, Kì Anh, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà… (Hà Tĩnh); Nam Đàn, Đô lương, Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Diễn Châu… (Nghệ An).

Hát ví phường vải xuất hiện từ lúc nào chưa ai biết chính xác, nhưng phát triển rầm rộ nhất vẫn là thời gian ngành bông vải sợi du nhập vào Việt Nam. Vào những dịp nông nhàn, trong những đêm thời tiết tốt, quanh năm bảy chiếc xa quay sợi, những tiếng hát hay qua những câu đối đáp tài tình, tao nhã của hai phe nam nữ đã lôi cuốn được bao nhiêu người, không kể trẻ già, từ những người tầm thường đến những bậc cự nho. Do vậy, hát ví phường vải chính là sự kết hợp giữa những người trí thức với người lao động. Ngày trước, ở xứ Nghệ có rất nhiều nghệ nhân hát ví phường vải [4, tr. 121-140 ; 8, tr. 45-48 ].

3.2. Quan hệ của các vai giao tiếp trong hát phường vải

3.2.1. Quan hệ tương tác giữa các vai giao tiếp
HPV khi hát một mình gọi là ví ngâm, ví buông; nhưng thường là hát đôi, hát phe: Hát đôi là một nam một nữ; hát phe là phe nam- phe nữ, phe khách-phe chủ. Mỗi phe thường có những người có giọng hát thật hay, thật trong trẻo, mượt mà, vang xa ; đồng thời lại có những người giỏi bắt làn bẻ điệu, có tài đối đáp, đố hỏi, gọi là những “thầy gà”, “thầy bày” trí tuệ, mẫn tiệp, thông kim bác cổ, am hiểu đông tây. Mặt khác, trong một cuộc HPV, ngoài những người trực tiếp hát đối đáp (bên nam- bên nữ), còn có cả những người đi nghe hát (trẻ có, già có, nam có, nữ có).

Như vậy, nếu xét từ góc độ vai trò tham gia thì những người có mặt trong một cuộc HPV (ở cả hai phe) thường gồm các thành phần khác nhau: người hát (bao gồm cả người cất giọng và người đỡ giọng); người đặt câu hát (còn gọi là thầy bày, thầy gà); người đi nghe hát (thính giả tự nguyện). Nếu xét về quan hệ giao tiếp thì các thành phần trên được đặt vào các vai giao tiếp cụ thể: vai chủ (phe nữ), vai khách (phe nam) và vai thầy bày, thầy gà (người đi nghe hát có thể thuộc một trong ba vai này).

(1) Phe nam (cất giọng trách):

– Anh quen em năm ngoái lại giừ,

Cơi trầu anh mang đến, em chối từ không ăn.

(2) Phe nữ (cất giọng đáp):

– Có phải mô anh, có rứa mô anh,

Năm qua bé nhỏ, em chưa dám ăn trầu người.

[4, tr 275]

Trong lời (1), khi phe nam (vai khách) vào vai người hát (trách) thì phe nữ (vai chủ) vào vai người nghe; còn trong lời (2), khi phe nữ vào vai người hát (đáp- giải trình) thì phe nam lại vào vai người nghe. Cứ thế, suốt cuộc hát, hai phe có thể trao – đáp theo trình tự luân phiên lượt lời của hoạt động giao tiếp.

Như vậy, mối quan hệ tương tác giữa các vai giao tiếp trong HPV vừa có tính ổn định, vừa thay đổi khá linh hoạt, phong phú. Phe nữ luôn là vai chủ, phe nam luôn là vai khách, nhưng cả hai phe luân phiên vừa vào vai người cất giọng/đỡ giọng hát, lại vừa đóng vai là người nghe. Ngay cả vai thầy bày, thầy gà cũng không chỉ xuất hiện trong hậu trường mà có khi trực tiếp cất lời đối đáp [4, tr 33- 34; 8, tr 68- 69]. Vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập tới ở một bài viết khác.

3.2. 2. Quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp
Quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp trong HPV là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật tham gia trong cuộc hát, bao gồm hai vai chính: vai chủ (phe nữ) và vai khách (phe nam). Mối quan hệ này cũng được xem xét trên cả hai bình diện: trục quyền thế xã hội và trục khoảng cách.

3.2.2.1. Xét trên trục quyền thế xã hội

Sự phân định quyền thế xã hội của vai chủ và vai khách trong HPV dựa trên sự khác biệt về nghề nghiệp, địa vị xã hội, tuổi tác và quan niệm định kiến về giới của xã hội.

a) Về nghề nghiệp và địa vị xã hội:

Về nghề nghiệp, vai nữ trong HPV là những cô gái lao động, làm nghề kéo vải, quanh năm gắn bó với công việc trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, gắn với khung cửi, xa quay. Còn vai nam thì nghề nghiệp đa dạng, phong phú hơn. Đó có thể là những chàng trai lao động, làm nông nghiệp, chài lưới; có thể là những người buôn bán; là sĩ tử đang dùi mài kinh sử hay những người lận đận trong con đường khoa cử, phải trở về làm ông thầy đồ gõ đầu trẻ.

Theo đó, xét về địa vị xã hội, có sự phân biệt rất rõ giữa nam giới và phụ nữ. Theo quan niệm xưa, vấn đề công danh sự nghiệp chỉ đặt ra đối với các bậc nam nhi, không hề có bất cứ một vị trí xã hội nào dành cho phụ nữ. Vì vậy, vai chủ trong HPV đa số chỉ là những người phụ nữ lao động bình thường, có chăng chỉ mang chút danh phận nhờ vào vai vế của chồng (*). Trong khi đó, có nhiều khách phường vải là những người có vai vế trong xã hội, thậm chí cả tầng lớp các quan lại, sỹ phu…(**) . Xuất phát từ sự khác biệt đó, trong HPV, thường thì vai chủ luôn tỏ rõ thái độ tôn trọng, đề cao vai khách về tài năng, về danh tính, về vị trí xã hội. Thái độ này thể hiện rõ ngay từ cách lựa chọn từ xưng hô:

Khoan khoan (mau mau) dóng trống mở cờ,

Hình như nho sĩ tới bờ đào nguyên.

[4, tr 186]

Đôi khi đối với khách lạ, bên nữ còn tỏ thái độ đắn đo, e dè: “Đến đây muốn hát muốn đàn- Sợ lòng con cậu cháu quan khó chiều”. Những trường hợp ấy, bên nam phải giãi bày quan điểm: “Ở nhà con cậu cháu quan- Đi ra phường vải hát đàn nghe chung” (4, tr 192); hoặc “Ở nhà con thánh con thần- Đi ra phường vải cầm cân thẳng bằng”(4, tr 193). Đó cũng là lời vai khách tự nhắc nhở nhau tôn trọng lề lối, phép tắc của cuộc hát, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, mà rất công bằng, bình đẳng trong quan hệ với bạn hát. Còn đối với vị khách nào tỏ ra phân biệt khoảng cách địa vị xã hội (khoe mình đỗ đạt, con nhà quyền quý; hoặc khoe chữ nghĩa văn chương…), các cô gái phường vải cũng không ngần ngại ‘‘đùa móc’’ để chỉ trích : “Chàng làm nên thám hoa, thiếp cũng dạ mừng thay-Trốngrồng chiêng bạc đã đến tay chưa hỡi chàng ? ” (4, tr 159).

Tuy vậy, trong HPV, có khi vai nữ cũng được tôn vinh (tự tôn qua lời nữ và được tôn qua lời nam) dù sự tôn vinh ấy thường chỉ nghiêng về phương diện ca ngợi sắc đẹp (nhan sắc Hằng Nga má đào, như búp hoa sen, búp hoa đào ); nhưng cũng có khi khẳng định tài năng (tài hát, tài ví hay, đàn hay,…), khẳng định giá trị (lạng vàng mười…). Không thấy trong ngữ liệu HPV sự tôn vinh về quyền thế xã hội.

Đồn đây có gái hát tài,

Để ta đối địch một vài trống canh.

Dẫu thua dẫu được cũng đành,

Bõ công đèn sách học hành bấy lâu.

[4, tr 178 ]

Lời ca thể hiện rõ quan điểm, thái độ của người con trai. Đó là khẳng định tài năng của người con gái (tài hát) và đặt cái “tài” ấy trong mối tương quan với “công đèn sách học hành” của mình để rồi sẵn sàng “đối địch” (theo nghĩa hát đối đáp) trên cơ sở “được thua” bình đẳng, công bằng. Chuyện “thua-được” không đáng băn khoăn, nhưng mong muốn được đối đáp thi cùng “gái hát tài” để khỏi “bõ công đèn sách học hành” quả là một cách nói đề cao đối với tài năng những cô gái phường vải.

b) Về tuổi tác:

Hát đối đáp giao duyên thường là nơi gặp gỡ của nam thanh nữ tú. Trong HPV cũng vậy, các vai giao tiếp chủ yếu là “Anh đi tìm vợ qua sông- Em đi tìm chồng thì gặp anh đây”, do vậy vai nữ thường ít tuổi hơn vai nam. Sự phân định khoảng cách tuổi tác thể hiện rất rõ qua việc sử dụng từ xưng hô của các vai giao tiếp: Ngoài hiện tượng sử dụng cách hô gọi zero với ột tỷ lệ khá cao ở cả lời nam và lời nữ (mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau), vai nam thường ở bậc trên với các từ xưng “anh” (329/767 lượt lời, chiếm 43%), được gọi “chàng” (344/978 lượt lời, chiếm 35%), “anh” (313/978 lượt lời, chiếm 32%); vai nữ thường ở bậc dưới với các từ xưng “em” (293/978 lượt lời, chiếm 30%), “thiếp” (117/978 lượt lời, chiếm 12%), được gọi “em” (338/767 lượt lời, chiếm 44%), “nàng” (84/767 lượt lời, chiếm 11%).

Tuy nhiên, người tham gia HPV không chỉ là “trai khôn tìm vợ”, “gái ngoan tìm chồng” mà còn có đủ các lứa tuổi già trẻ khác nhau (kể cả những người đã yên bề gia thất, đàn ông có vợ, đàn bà có chồng vẫn không thể bỏ cái thú đi HPV). Vì vậy, ở chặng hát dạo, sau câu chào có tính công thức để mở màn cho cuộc hát (Lời nữ: Đến đây đông thật là đông- Chào bên nam mất lòng bên nữ- Chào quân tử sợ dạ thuyền quyên- Em chào chung một tiếng kẻo chào riêng bạn cười; Lời nam: Đến đây chào chung chào chạ – Anh xin chào tất cả chị em), họ bày tỏ quan điểm, xác định thái độ cho bản thân cũng như làm yên lòng những người chồng, người vợ:

Ai có chồng nói chồng đừng sợ,

Ai có vợ nói vợ đừng ghen,

Tới đây hò hát cho quen

Rạng ngày ai về nhà nấy,

Không há lẽ ngọn đèn hai tim.

[4, tr 174 ]

c) Quan niệm định kiến giới:

Cũng như CDDC nói chung, mối quan hệ quyền thế giữa vai chủ và vai khách trong HPV phải kể đến sự phân biệt giới trên cơ sở quan niệm định kiến giới của xã hội. Trong điều kiện nhất định của giao tiếp, vai chủ và/hoặc vai khách trong mỗi câu hát là những con người cụ thể, có cá tính và tâm trạng riêng, nói lên những cảm xúc, suy nghĩ của mình với người khác giới. Những suy nghĩ, những cảm xúc ấy vừa mang tính cá nhân, vừa mang đặc trưng giới tính, vì vậy mà tình cảm, cảnh ngộ riêng của mỗi người dễ dàng được cộng đồng chia sẻ, chấp nhận.

Trong HPV, toàn bộ hệ thống lời ca đều là phát ngôn của phe nam/hoặc phe nữ, theo đó, chủ thể tương ứng là vai nam/hoặc vai nữ. Qua nội dung lời ca có thể thấy rõ cả hai vai giao tiếp đều đề cập tới thân phận con người đặt trong các mối quan hệ cụ thể. Thân phận vai nam có phận làm con, phận làm chồng, phận làm cha, phận làm trai, phận làm người gắn với đạo cương thường.

Quân sư phụ là tam cương giả,

Đi một chuyến đò đắm cả cứu ai?

– Anh liều nhảy xuống sông ba,

Trên đầu đội chúa, lưng cõng cha, tay dắt thầy.

[4, tr 231]

Còn thân phận vai nữ có: phận làm con, phận làm vợ, phận làm mẹ, phận làm người với những ràng buộc của “tam tòng, tứ đức”.

Phó Bảng Kỷ hỏi:

Văn miếu trồng văn lân chi sự,

Võ miếu trồng bàng lân can qua.

Răng em không kết nghĩa kẻo già,

Trăng già tỏ mái em xây qua mấy hồi?

Cô Nhẫn đáp:

Công cha nghĩa mẹ nặng lắm phu quân ơi,

Đạo chồng con em sớm muọn là nhờ trời,

Vườn xuân em nở muộn phu quân thời chớ lo.

[4, tr 160]

Sự phân biệt giới trên cơ sở quan niệm định kiến giới thể hiện rõ nhất ở những lời ca mở đầu bằng “thân em”, “em như”, “thân anh”, “anh như”… Tuy nhiên, HPV là hát đối đáp giao duyên, do vậy, nội dung này chiếm tỷ lệ rất ít, đặc biệt là hầu như không xuất hiện ở lời hát nam: có 33 lời mở đầu bằng “thân em ” , “em như ”, “mình em như”; 1 lời mở đầu bằng “thân anh” , …

3.2.2.2. Xét trên trục quan hệ khoảng cách

Sự thay đổi trong quan hệ khoảng cách của các vai giao tiếp thể hiện theo từng chặng hát.

Ở chặng hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi chủ yếu là khoảng cách xa lạ. Cả chủ và khách đang ở giai đoạn thăm dò, lựa lời chào hỏi, tìm hiểu về tên tuổi, nghề nghệp, quê quán, gia đình, mục đích là để làm quen với nhau, do vậy mang màu sắc xã giao, khách sáo. Điều đó thể hiện ở cách xưng hô với những từ ngữ đã được mỹ hoá: khách chương đài, khách hồng lâu, khách văn chương, văn nhân, chàng nho sỹ, anh hùng, quân tử,…Riêng một số trường hợp đón khách quen thì lời hát dạo, hát chào của phe nữ có phần thân mật, gần gũi hơn:

Bấy lâu anh mắc chi nhà,

Để em dệt gấm thêu hoa chịu sầu.

[4, tr 183]

Sang chặng hát đố, hát đối, vai chủ thử thách vai khách về trí tuệ, kiến thức hiểu biết về sử sách, về cuộc sống, xã hội. Theo đó, gắn với câu đố, câu xuất đối của vai chủ thường là lời hứa hẹn; và tương ứng, gắn với câu giải đố, câu đối của vai khách là lời nhắc nhở thực hiện cam kết:

Mẹ thương con qua cầu Ái Tử,

Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu,

Chàng mà đối được thiếp làm du (dâu) mẹ thầy?

– Lúa ba trăng cấy hồ bán nguyệt,

Con hươu sao ăn lá hoàng tinh,

Anh đà đối được, em thuận tình em nha (nhé).

[4, tr. 241]

Câu đối lại mới đáp ứng được chữ và nghĩa, chưa đáp ứng được địa danh như ở vế xuất đối. Tuy nhiên vẫn được coi là chỉnh. Và điều quan trọng là nội dung thông tin cuối mỗi lời đã biểu hiện sự mong muốn được cùng nhau gắn kết, trao duyên (thiếp làm du mẹ thầy, thuận tình em nha …).

Trong thực tế, chặng hát đố, hát đối là chặng rất khó khăn đối với vai khách. Vượt qua chặng thử thách này, vai khách được mời vào sân, vào nhà, ăn trầu, uống nước, cùng vai chủ hát giao duyên thâu đêm suốt sáng, trở thành tri kỉ, tri âm (quan hệ thân tình, gần gũi). Ngược lại, nếu không vượt qua chặng thử thách này, vai khách sẽ phải ngậm ngùi hoặc hậm hực rút lui khỏi cuộc hát. Lẽ dĩ nhiên, quan hệ giữa chủ và khách vẫn là quan hệ xa cách.

Cuối cùng là chặng hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Đây là chặng trai gái thổ lộ tình cảm với nhau với bao nỗi niềm tâm sự, bao nhớ thương, ước mơ, hy vọng về hạnh phúc lứa đôi. Có hát thương, hát nhớ; có hát thề nguyền trao lời vàng đá; có hát than trách, hát li tình; có hát cưới hỏi… Tất cả hoà quyện, đan xen. Do đó, ở chặng này, quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp đã xoá được khoảng cách, trở nên gần gũi, thân thiết.

Một điều lí thú là mối quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp ở HPV còn được thể hiện qua ngôn ngữ thưa gọi có ý nghĩa đưa đẩy mở đầu lời hát. Trong hai chặng hát đầu (chặng hát dạo, hát chào, hát mừng và chặng hát đố, hát đối), trước khi hát một câu, mỗi bên đều cất lời gọi: bên nam gọi “Ơ này, chị em phường vải ơi!”, còn bên nữ gọi “Ơ người đi nhởi (chơi) ơi!”. Nghe lời gọi, mỗi bên sẽ cất lời thưa: “Ơ thưa chi (gì)!”. Theo đúng lề lối của cuộc hát, gọi thưa xong thì mới được cất lời hát. Sau mỗi lời hát ấy, bên nghe sẽ thể hiện sự cộng tác bằng cách khen chê. Nếu lời hát hay, câu đối đáp chỉnh thì nhận được lời khen: “Hay, ơ rằng hay” hoặc “Hay rằng thưa xinh” hay “Hay hỡi rằng cân (cân xứng)”. Nếu lời hát không hay, đối đáp không chỉnh thì nhận được lời chê: “Hay rằng chưa cân”, “Hay rằng chưa xinh”… Gặp trường hợp này, bên nam thường phải hát lại.

Trong chặng hát cuối (cũng là chặng hát chính, bao gồm các bước hát mời, hát xe kết, hát tiễn), khi các bên tham gia cuộc hát đã bắt đầu bén nhau, gắn kết với nhau bằng những lời hát trao duyên ân tình, đằm thắm thì ngôn ngữ thưa gọi cũng thay đổi, chuyển thành “Người ơi!”, “Hỡi là người ơi!”, “Ơ là ngãi (nghĩa) người thương ơi!”; và khi đã thật gắn bó thì gọi nhau bằng lời đằm thắm: “Ơ là bạn tình ơi!”.

Ngôn ngữ thưa gọi mở đầu hoặc kết thúc mỗi lời hát thể hiện sự thay đổi (theo chiều hướng tích cực) trong quan hệ liên cá nhân giữa các bên đối đáp trong HPV có thể coi là nét đặc trưng riêng, ít xuất hiện trong các loại hình dân ca khác.

4. Một vài lời kết:

4.1. Qua xem xét quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp trong HPV cho thấy, vai chủ thường ở địa vị thấp hơn so với vai khách. Theo trình tự các chặng, các bước của một cuộc HPV, các vai giao tiếp có sự điều chỉnh về quan hệ khoảng cách: từ xa lạ đến thân tình. Và tương ứng, mức độ hiểu biết giữa các vai giao tiếp cũng thay đổi dần theo hướng tích cực: từ việc tìm hiểu những thông tin về tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, gia cảnh đến khâm phục tài năng, trí tuệ, sự uyên bác và cuối cùng là tình tri kỉ, tri âm, hiểu và cảm đến từng rung động sâu xa của tâm hồn. Qua HPV, trai gái không chỉ thổ lộ, trao đổi tình cảm với nhau mà còn đua trí với nhau nữa. Họ thử thách trí thông minh, sự nhanh trí, tầm hiểu biết cuộc sống của nhau. Rồi vì cảm một câu ví hay, phục một câu đối, một lời giải đố tài tình mà thành bạn trăm năm của nhau. Trong HPV, mức độ thân cận giữa các vai giao tiếp tỷ lệ thuận với mức độ hiểu biết nhau của các vai giao tiếp. Mối quan hệ này thường được hình thành trên một trục đối xứng, và trong suốt cuộc hát, nếu Sp1 dịch gần lại Sp2 thì Sp2 cũng dịch lại gần Sp1 và ngược lại. Cứ thế, nhờ thái độ cộng tác theo hướng tích cực ấy, khoảng cách giữa hai bên được rút ngắn dần, và cuối cùng chỉ còn lại sự hoà quyện giữa những lời hát giao duyên trữ tình, đằm thắm của hai tâm hồn đồng điệu. Cũng có hiện tượng thái độ cộng tác chỉ từ một phía, do đó, quan hệ khoảng cách vốn xa lạ đã không thể điều chỉnh được, và cuộc hát đã không đi đến được chặng cuối cùng.

4.2.HPV là một hoạt động giao tiếp đặc thù vừa mang tính nghệ thuật cao (thuộc về sinh hoạt văn hoá dân gian) lại vừa chịu ảnh hưởng bởi những nét riêng của phương ngữ Nghệ Tĩnh. Dù xuất hiện ở dạng đơn (một lời) hay ở dạng cặp trao đáp (thường gồm một lời trao và một lời đáp), các vai giao tiếp có thể không phân biệt về tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, nhưng lại được xác định trên cơ sở giới tính rất rõ: giới nam và giới nữ. Mặt khác, đây là một hình thức hát đối đáp giao duyên, do đó, đặc điểm giới tính càng được bộc lộ qua nhiều phương diện: cách sử dụng từ ngữ, cách chọn đề tài, hình ảnh, cách cấu trúc câu hát… Nhận xét bao trùm nhất là yếu tố giới tính không chỉ nằm trong bản thân các từ xưng hô (ví dụ: chàng – thiếp; anh – em…) mà còn được thể hiện ở trong trong cách lựa chọn từ xưng hô theo nguyên tắc ứng xử có tính chất văn hoá truyền thống của cộng đồng (người nữ thường xưng em và gọi người nam là anh như một biểu hiện của sự khiêm nhường ở giới nữ trong giao tiếp với giới nam).

Việc tìm hiểu đặc điểm giới tính trong từ xưng hô thể hiện quan hệ của các vai giao tiếp trong HPV Nghệ Tĩnh là một vấn đề thú vị, do đó, chúng tôi hy vọng sẽ có dịp đề cập tới ở một bài viết khác để góp phần tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về thể loại văn hoá dân gian đặc thù này. .

Nguyễn Thị Mai Hoa

Nguồn: Văn Hóa Nghệ An

_________________________

(*) Các nghệ nhân dân gian được lưu truyền trong những giai thoại hát ví còn lại đến ngày nay là bà Dũng Thơn, bà cháu Ban, bà Cựu Năm, chị Ba Xuân, o Uy, o Sạ, o Cúc, o Nhẫn, o Chín, o Ba, o Bốn, o Lượng, o Tình… Thi thoảng có đôi người được hưởng lộc chồng, thơm lây với cái danh như bà Chánh Diên, bà đồ Sân, chị đồ Thịnh, chị đồ Khoa…

(**) Ngoài những nghệ nhân vô danh, có thể kể ra rất nhiều tên tuổi của các bậc sĩ phu như Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân, Vương Thúc Quý, Cao Thắng; những người đã qua cửa Khổng sân Trình như cử Quyền, cử Thuỵ, cử Tích, cử Bân, cử Vành, hàn Sách, hàn Lương, tú Quynh, nho Sáu, nho Lân, nho Ba, nho Côn, học Nhã…

Tài liỆu tham khẢo

1. Nguyễn Chung Anh (1958), Hát ví Nghệ Tĩnh, NXB Văn sử địa;

2. Nguyễn Nhã Bản (Chủ biên), Ngô Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ (2001), Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (Trên dẫn liệu ngôn ngữ), NXB Nghệ An;

3. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội;

4. Ninh Viết Giao (2002), Hát phường vải, NXB Văn hoá thông tin;

5. Ninh Viết Giao (chủ biên), Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng (2005), Nghệ An, lịch sử và văn hoá, Nxb Nghệ An;

6. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Ngữ cảnh và giao tiếp, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội;

7. Đỗ Thị Kim Liên (2005), Giáo trình Ngữ dụng học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;

8. Vi Phong, Thư Hiền (1997), Hát phường vải ở Trường Lưu, Nxb Hà Nội;

9. Vi Phong (2000), Dân ca Nghệ Tĩnh, Sở VHTT xuất bản;

10. Lê Xuân(2007), Tổng lược và nhận xét Dân ca Thanh Nghệ Tĩnh qua báo chí sau thế kỷ XX, Vietsciences- V ĩnh Phúc, 30/11;

Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *