Chiêm nghiệmTOP 9Triết lý cáo

9 bài thơ Thiền thời Lý – Trần sâu sắc nhất

Thơ Thiền Lý – Trần không chỉ là di sản văn chương quý báu của Việt Nam mà còn là những tư tưởng tu đạo chân chính nhất trong lịch sử tôn giáo tâm linh Việt Nam. Thơ Thiền Lý Trần là sự kết hợp giữa cảnh giới Thiền và tình yêu thiên nhiên của các thiền sư nước ta trong hai triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử. 

Cáo xin được giới thiệu với các độc giả 9 bài thơ Thiền hay còn gọi là kệ thiền sâu sắc nhất của thời Lý – Trần

#1. CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ (KỆ VÂN) – TRẦN NHÂN TÔNG

Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Dịch nghĩa:

Sống giữa phàm trần, hãy tuỳ duyên mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với mọi cảnh giới mà vẫn vô tâm, thì cần chi hỏi thiền nữa.

 

#2. CÁO TẬT THỊ CHÚNG – MÃN GIÁC THIỀN SƯ

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch nghĩa

Xuân đi, trăm hoa rụng,
Xuân đến, trăm hoa nở.
Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,
Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.
Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,
Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.

 

#3. TÂM KHÔNG – KHUYẾT DANH

Thân như tường bích bĩ đồi thì,
Cử thế thông thông thục bất bi ?
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng,
“Sắc”, “không” ẩn hiện nhậm suy di.

Dịch nghĩa

Thân người như vách tường sẽ đến lúc đổ nát
Người đời ai cũng vội vã, lo buồn
Nếu biết cái tâm là không, sắc tướng cũng là không
Thì dù sắc với không có ẩn hiện đổi thay bao nhiêu cũng cũng mặc nó vần chuyển.

 

#4. ĐOẠN LUYỆN THÂN TÂM – KHUYẾT DANH

Đoạn luyện thân tâm thủy đắc thanh
Sum sum trực cán đối hư đình
Hữu nhân lai vấn không vưông pháp
Thân toạ bình biên ảnh tập hình.

Dịch nghĩa:

Thân tâm rèn luyện tựa nước xanh
Sấn rộng, cây cao toả bóng lành
Có người đến hỏi đường tu Phật
Ngồi dựa bình phong bóng tựa hình

 

#5. SƠN PHÒNG MẠN HỨNG – TRẦN NHÂN TÔNG

I

Thuỳ phọc cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm, hà tất mịch thần tiên.
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.

Dịch nghĩa

Ai trói buộc mà phải tìm phương giải thoát,
Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên.
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người cũng đã già,
Vẫn một chiếc giường thiền ở am mây cũ.

II

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tuỳ dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

Dịch nghĩa

Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm,
Lòng danh lợi lạnh theo trận mưa đêm.
Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch,
Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn.

 

#6. PHÓNG CUỒNG NGÂM – TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

Bản dịch nghĩa:

Ngắm trông trời đất sao mà mênh mông,
Chống gậy nhởn nhơ ngoài thế gian.
Hoặc đến chỗ núi mây cao cao,
Hoặc đến chỗ biến nước sâu sâu.
Đói thì ăn cơm hoà-la,
Mệt thì ngủ làng “không có làng”.
Khi hứng thì thổi sáo không lỗ,
Nơi yên tĩnh thì thắp hương giải thoát.
Mệt thì nghỉ tạm ở đất hoan hỉ,
Khát thì uống no thang tiêu dao.
Láng giềng với Quy Sơn đi chăn trâu nước,
Cùng thuyền với Tạ Tam hát khúc “Thương lương”.
Hỏi thăm đến suối Tào Khê vái chào Lư thị,
Yết kiến Thạch Đầu sánh cùng lão Bàng.
Vui niềm vui của ta niềm vui Bố Đại,
Cuồng cái cuồng của ta, cái cuồng Phổ Hoá.
Chà chà! Cảnh giàu sang như mây nổi,
Ôi chao! Thời gian thấm thoắt như bóng ngựa qua kẽ vách.
Con đường làm quan sao mà hiểm trở đến thế!
Thói đời nóng lạnh ta hãy tạm quen.
Sâu thì dấn mà nông thì vén,
Dùng thì làm mà bỏ thì cất đi.
Buông lỏng tứ đại đừng có bó buộc,
Xong một đời rồi, không chạy chọt đó đây.
Thoả ý muốn của ta và được đúng chỗ của ta,
Sống, chết dồn ép, ta có ngại gì đâu!

Đọc thêm bản tiếng Hán tại HỌC VIẾT

 

#7. NGỌ THỤY – HUYỀN QUANG THIỀN SƯ

Vũ quá khê sơn tịnh,
Phong lâm nhất mộng lương.
Phản quang trần thế giới,
Khai nhãn tuý mang mang.

Dịch nghĩa

Tạnh mưa khe trong núi nước trong
Rừng phong mát mẻ sau giấc ngủ say (mộng).
Nhìn lại cõi trần này.
Khi bừng mắt tỉnh dậy thấy niềm say man mác.

 

#8. HƯU HƯỚNG NHƯ LAI – QUẢNG NGHIÊM THIỀN SƯ

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hương Như Lai hành xứ hành.

Dịch nghĩa

Lìa được sự ham muốn đi vào niết bàn thì mới có thể bàn chuyện đi vào niết bàn
Sinh vào cõi vô sinh rồi mới có thể bàn chuyện vô sinh
Làm trai phải tự có chí xung trời thẳm
Đừng nhọc mình dẫm theo vết chân của Như Lai.

 

#9. HỮU CÚ VÔ CÚ – TRẦN NHÂN TÔNG

Câu hữu câu vô,
Như cây đổ, dây leo héo khô.
Mấy gã thầy tăng,
Đập đầu mẻ trán.

Câu hữu câu vô,
Như thân thể lộ ra trước gió thu.
Vô số cát sông Hằng,
Phạm vào kiếm, bị thương vì mũi nhọn.

Câu hữu câu vô,
Lập công phái, ý chỉ.
Cũng là dùi rùa, đập ngói,
Trèo núi lội sông.

Câu hữu câu vô,
Chẳng phải hữu, chẳng phải vô,
Khác nào anh chàng khắc mạn thuyền mò gươm,
Theo tranh vẽ đi tìm ngựa ký.

Câu hữu câu vô,
Từ xưa đến nay,
Chỉ chấp ngón tay mà quên vầng trăng,
Thế là chết đuối trên đất bằng.

Câu hữu câu vô,
Như thế như thế!
Tám chữ mở ra rồi,
Hoàn toàn không còn điều gì lớn nữa.

Câu hữu câu vô,
Quay bên phải, ngoái bên trái.
Thuyết lý ầm ĩ,
Ồn ào tranh cãi.

Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên quấn quít như dây leo,
Thì hữu và vô đều hoàn toàn thông suốt.

Đọc thêm bản tiếng Hán tại HỌC VIẾT

 

Cáo Hà Thành

 

Fox Spirit
FOXSPIRIT là website cung cấp các bài viết về lối sống mà trong đó tình yêu và sự tận hưởng đóng vai trò quan trọng nhất.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *